|
Tên thật là Ngô Xuân Diệu,
sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 tại Tuy Phước, tỉnh B́nh Định cũ, nơi cha
là Ngô Xuân Thọ vào dạy học và kết duyên với mẹ là Nguyễn Thị Hiệp.
Trích từ http://dactrung.net/tacgia/
o0o
Nhà Thơ số Một của Thơ Mới
Vương Trí Nhàn
Đi t́m một cách nói hợp lư Xuân Diệu thường nói ông mang trong ḿnh quê hương thống nhất. Cha đàng ngoài má ở đàng trong, -- cái lư của ông thật cụ thể. Mượn cách nói ấy, khi xem xét sang lĩnh vực thơ, tôi cũng muốn nói rằng ông mang trong ḿnh nền thơ thế kỷ Việt Nam thế kỷ XX. Nửa đầu thế kỷ, thơ Việt có chuyển đổi về mặt cơ cấu, từ mô h́nh kiểu trung đại chuyển sang một mô h́nh hiện đại. Khi thơ như một cơ cấu đă ổn định, từ sau 1945, cái định hướng rơ nhất là chuyển đổi chức năng để phục vụ xă hội. Trong cả hai cuộc vận động, người ta đều thấy Xuân Diệu là một trong những tên tuổi được nhắc nhở nhiều nhất. Trong phạm vi Thơ mới, ông không có những bài thơ coi là mở đầu như Phan Khôi. Ông không có vai tṛ người khai phá đầy tài năng như Thế Lữ, không có những tác phẩm chín như Huy Cận. Song nói đến thời đại này là phải nói đến ông. Qua ông, thấy cả sự vận động của Thơ mới. Tuy cùng nằm trong khuôn khổ hiện đại hóa văn học, song những ǵ diễn ra trong thơ tiền chiến khác hẳn trong văn xuôi. Với văn xuôi các nhà văn của ta bằng ḷng làm người học tṛ nhỏ của văn học Pháp. Thơ th́ khác. Ban đầu người ta không chịu. Phạm Quỳnh từng kể, có những ông đồ tự hỏi: Bên tây cũng có thơ à? Quan niệm như vậy, cho nên trong thực tế, đồ thị diễn tả vận động của mỗi thể loại cũng khác nhau. Ở văn xuôi mọi chuyện từ từ, không có đột biến. Thơ cũ, sau một hồi chống chọi, như là xảy ra t́nh trạng “vỡ trận”. Kết quả là có Thơ mới náo động một thời. Có thể t́m thấy bóng dáng cuộc vận động này trong bước đi của Xuân Diệu. Ông đến trong tư thế ào ạt khẳng định. Ban đầu Thơ mới làm cho người ta ngỡ ngàng ư? Th́ Xuân Diệu làm cho chúng ta ngỡ ngàng. Rồi cuối cùng chúng ta thấy Thơ mới gần với ta ư? Th́ Xuân Diệu đă được cả một thời say đắm. Xuân Diệu là tất cả cái hay cái dở của thơ mới. Là sự cởi mở và tham vọng của con người đương thời. Là hào hứng đi ra với thế giới. Nhưng cũng là nông nổi, cạn cợt, là nhanh chóng chán chường và bế tắc. Nếu cần nói gọn một câu về vai tṛ của Xuân Diệu trong Thơ mới th́ nên nói ǵ? Hoài Thanh là người đầu tiên cho rằng “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới”. Ở Sài G̣n năm 1967, trong tập Bảng lược đồ của văn học Việt Nam (Ba thế hệ của nền văn học mới ), Thanh Lăng cũng viết một câu tương tự. Tôi vừa đọc lại hồ sơ cuộc hội thảo kỷ niệm 10 năm nhà thơ Xuân Diệu qua đời. Cho đến nay công thức đó vẫn được nhiều người nhắc lại. Có lẽ ư kiến đó h́nh thành một phần là do từ trước, Hàn Mặc Tử c̣n ít được đọc và được nghiên cứu. C̣n ngày nay với sự phổ biến của Hàn Mặc Tử, th́ theo tôi, vai tṛ người mới nhất của Thơ mới phải thuộc về Hàn mới đúng. Nhưng sao người ta vẫn thích trích dẫn cái câu của Hoài Thanh? Tạm thời có thể diễn giải như thế này: Nếu từ góc độ khoa học của vấn đề, Hàn đă là người đi xa nhất, và do đó mới nhất. C̣n nếu xem xét hiệu ứng của thơ trong đời sống th́ những ấn tượng Xuân Diệu để lại trong ḷng người không ai có thể b́ kịp. Thay cho công thức “gương mặt tiêu biểu” đă ṃn, tôi muốn nói Xuân Diệu là hiện thân của Thơ mới. Là nhà thơ số một không phải với nghĩa hay nhất, giá trị nhất, đứng cao hơn hết …, mà là, nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi, th́ gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu. Giữa các phong cách của Thơ mới, Xuân Diệu là một cái ǵ vừa phải, hợp lư, ông vốn có cái dễ dàng để đến với đám đông trong văn chương cũng như trong cuộc đời. Thế Lữ hơi cổ. Trong thơ Thế Lữ người ta vẫn cảm thấy một cái ǵ hơi già, hơi cũ, mắt nh́n về cái mới chứ chân chưa đặt tới cái miền mới mẻ đó. Mong muốn kéo nhà thơ này đi tới nhưng con người ông không theo kịp. Lưu Trọng Lư cũng vậy, mà lại ngả sang mơ mộng xa xôi. Huy Cận chậm rải khoan thai đậm chất văn hóa, và Huy Cận như già trước tuổi nữa. Về độ chín của thơ, Xuân Diệu không bằng Huy Cận. Song sự trẻ trung làm cho Xuân Diệu có sự hấp dẫn hơn, phổ biến hơn nhiều. Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên ăn nhiều ở sự hướng thượng, suy tư, độc đáo. Các ông có cái ǵ đó mà người b́nh thường khó với tới. Họ nh́n theo các ông mà ngại. Xét về ảnh hưởng với các thế hệ sau, vai tṛ của Xuân Diệu cũng rất lớn. Như ở thế hệ những người sinh khoảng 40 của thế kỷ trước, những Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật. Nếu đặt ra một hàng những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử th́ trong sự khác nhau rất rơ, họ vẫn gần với Xuân Diệu hơn cả, số người nằm cùng một trục dọc với Xuân Diệu khá đông đảo. Xuân Diệu như hoa hồng trong một vườn hoa loại nào cũng đẹp. Như một thứ cơm tẻ vừa với mọi người. Đi đến một tổng hợp khái quát nhất Hoài Thanh ở cuối bài tổng luận về thơ mới bảo Xuân Diệu là “nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.
Thêm một ít khía cạnh trong con người Âu hóa và mỹ cảm hiện đại Xuân Diệu trước hết đại biểu cho những con người tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ nhà trường, làm nên một thứ nhân tố mới h́nh thành trong xă hội. Nhiều người đă nói về điều này, mấy ghi nhận dưới đây chỉ là một ít khía cạnh nhỏ. Ông là con người của ham muốn say đắm muốn sống hết ḿnh. Chỉ cần đọc một câu thơ Anh nhớ tiếng anh nhớ h́nh anh nhớ ảnh -- Anh nhớ em anh nhớ lắm em ơi, cảm nghe hết cái sự nồng nàn của nó …người ta đă biết ngay nó không thể có ở nhà thơ cổ điển, nó phải thuộc bề một nhà thơ hiện đại. Mặc dù có những bài tuyệt bút, song Xuân Diệu thường vẫn để lại ấn tượng có chỗ sượng, chưa chín, chưa đều tay. Ông là người rất có ư thức mà cũng là rất nhạy cảm khi bênh vực cho cái dang dở. So sánh ca dao Nam Trung bộ và ca dao miền Bắc, ông nói rằng ca dao miền Bắc quá chau chuốt quá hoàn chỉnh, trong khi ca dao Nam Trung bộ trần trụi thô mộc nên dễ gần. Có lần, nhận xét về một bài thơ, Xuân Diệu bảo khi người ta cảm động quá, người ta có ǵ đó run rẩy lúng túng. Trong những trường hợp này, Xuân Diệu đă biện hộ cho ḿnh. Chính ở cái vẻ vội vàng hấp tấp dở dang chưa thành này mà Xuân Diệu gần với con người đương thời. Nhưng không chỉ có thế. Không chỉ có hồn nhiên tuổi trẻ, mà càng về sau, Xuân Diệu càng tỏ ra sống hết với cái đă đầy của cuộc sống. Bài Hy mă lạp sơn là một cách ướm thử sự vượt lên cái thông thường, tự làm khác ḿnh đi và đẩy suy nghĩ của ḿnh tới cùng, tới cái tuyệt đối. Nhưng một lần tới rồi th́ lộ ngay ra là không bao giờ nên trở lại nữa. Biết điều tội nghiệp run rẩy thiết tha, Xuân Diệu là chính ḿnh hơn trong Lời kỹ nữ. Sự khác nhau giữa Thơ cũ và Thơ mới bắt đầu từ sự đổi khác của tâm lư con người, của cách xúc động… và điều này đă được nhiều người như Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh diễn tả sâu sắc. Mối quan hệ giữa lư trí và cảm xúc là một vấn đề lớn của con người hiện đại. Hồi 1961, nhân tuyển thơ 15 năm sau Cách mạng, Chế Lan Viên nói như một câu buột miệng “Xuân Diệu cần hồn nhiên hơn và Tế Hanh phải bớt tự nhiên đi”. Tôi đọc và tưởng là về già Xuân Diệu mới vậy. Sau đọc lại, thấy cái cách sống và làm việc theo lư trí này có từ Xuân Diệu hồi Thơ mới. Xét trên toàn cục, Xuân Diệu đă là một con người nhất quán, những năm cuối đời chỉ tô đậm những nét cốn có của ông lúc trẻ. Và đó chính là dấu hiệu làm chứng cho sự có mặt của nền văn hóa mà ông tiếp nhận từ nhỏ. Nhà t́nh báo Phạm Xuân Ẩn gần đây nói rằng con người ông có cả văn hóa Việt Nam lẫn văn hóa Mỹ. Trong Xuân Diệu cái yếu tố Mỹ được thay bằng văn hóa Pháp. Cố nhiên là cách kết hợp những yếu tố khác nhau ở người này không bao giờ giống như ở người khác, nhưng họ đều là hiện tượng đa văn hóa.
Thơ tám chữ, thơ bảy chữ Trên phương diện h́nh thức nghệ thuật thơ, so với các nhà Thơ mới khác, Xuân Diệu cũng để lại ấn tượng riêng, về một cái ǵ vừa miệng với số đông, nghĩa là rất phổ biến. Sáng tạo của Thơ mới trên phương diện thể thơ gồm hai phần: một là đưa thể tám chữ lên mức hoàn chỉnh và thứ hai là có những cách tân mới đối với các thể cũ như thơ bảy chữ, thơ lục bát. Sở dĩ đọc Thế Lữ ta cảm thấy một cái ǵ cũ cũ, bởi v́ ngoài Nhớ rừng, các bài tám chữ khác của ông để lại ấn tượng nặng nề do sự xâm nhập của yếu tố văn xuôi c̣n thô. Ở các bài như Đi giữa đường thơm, Nhạc sầu của Huy Cận, Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, chúng ta thấy thơ tám chữ tự nhiên như một sản phẩm thuần Việt. Mà cái đó đến sớm với Xuân Diệu. Những bài như Tương tư chiều,Vội vàng, Hoa đêm của ông cùng với Lời kỹ nữ Hy mă lạp sơn vừa nói ở trên là những sáng tác hoàn thiện. Hoài Thanh bảo thơ tám chữ của Xuân Diệu có nguồn gốc ở ca trù. Cảm giác gần gũi có được là do cái hồn thơ, một cái ǵ thanh thoát mà lại hơi lẳng lơ tinh nghịch. Mặt khác là hơi thơ, biểu hiện ở độ dài. Tính số câu của một bài thơ, trong khi Tiếng địch sông Ô của Huy Thông làm chúng ta ngợp, th́ các bài tám chữ của Xuân Diệu và những bài vừa nhắc trên của Huy Cận, Tế Hanh…cũng gần gũi hơn hẳn. Một đóng góp khác của Xuân Diệu trong thể thơ bảy chữ, những bài gồm ba –bốn khổ, nó là một hơi thơ mạnh đi như một lát dao sắc. Tản Đà không có bài thơ nào sử dụng tứ tuyệt như vậy. Trong số 47 bài của Mấy vần thơ của Thế Lữ, tôi chỉ thấy có một bài mang tên Yêu là cũng gồm ba khổ như thế này. Nhưng đây là một bài thơ rất ít người nhớ. C̣n với Xuân Diệu chúng ta thấy hàng loạt trường hợp Nguyệt cầm, Nụ cười xuân,Trăng, Huyền Diệu, Gặp gỡ,Yêu, T́nh trai, Đây mùa thu tới, Ư thu, Hẹn ḥ, Đơn sơ. Tôi chợt nhớ tới thể sonnet (1) của Pháp, và muốn giả thiết rằng ở những bài thơ nói trên, Xuân Diệu đă làm một cuộc hôn phối giữa thơ Pháp và thơ dân tộc. Ông Việt hóa sonnet từ nền văn hóa mà ông mới tiếp nhận và mang lại cho nó một âm hưởng phương Đông, bằng cách lai tạo nó với thất ngôn tứ tuyệt. Giờ đây loại thơ gồm ba hay bốn khổ tứ tuyệt -- 12 hoặc 16 câu bẩy chữ -- đă là một cấu trúc cổ điển. Thơ t́nh của Xuân Diệu sau 1945 thường trở lại với thể này Nguyện, Hoa nở sớm, T́nh yêu san sẻ, Ngược ḍng sông Đuống.Và đây, tạm kể một số bài thơ được nhiều người thuộc của các tác giả về sau : Buồn, Xuân, Em về nhà, Vạn lư t́nh, Gánh xiếc … của Huy Cận Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Cô hái mơ của Nguyễn Bính Xuân ư của Hồ Dzếnh Sầu chung, Chiều loạn ( Chiều loạn mây rồi gió đă lên ) của Trần Huyền Trân Từ sau 1945 , tôi muốn nhắc Hoa cỏ may (Cát vắng sông đầy cây ngẩn ngơ) của Xuân Quỳnh, cũng như bài Thanh xuân (2) của Nhă Ca, giữa hai bài của hai thi sĩ có ǵ như là đồng vọng và cùng âm hưởng.
Cái mới đến từ hội nhập Nhớ lại khi Xuân Diệu mới xuất hiện, Hoài Thanh thú nhận: “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đă tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đă rụt rè không muốn làm thân với con người có h́nh thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần v́ ta thấy người cùng ta t́nh đồng hương vẫn nặng” Cái t́nh đồng hương nói ở đây gồm hai yếu tố: Một là những yếu tố thuần Việt. Đă nhiều người nói tới cái phần thi liệu Việt ở Xuân Diệu từ “Đă nghe rét mướt luồn trong gió / Đă vắng người sang những chuyến đ̣” tới “Hoa bưởi thơm rồi đêm đă khuya” hoặc “Con c̣ trên ruộng cánh phân vân” Hai là những yếu tố mượn từ đời sống và văn hóa Trung Hoa đă được Việt hóa. Cái yếu tố Tàu này vốn thấy ở nhiều nhà văn tiền chiến, từ những ông già thả thơ đánh thơ ở Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, tới chú khách bán mằn thắn và mấy người khách ở phố Cẩm Giàng của Thạch Lam … Bấy lâu ta cứ ngỡ ở Xuân Diệu chỉ có Rimbaud với Verlaine, hóa ra ta nhầm. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đọc lại báo Ngày nay 1938 c̣n dẫn ra cả một đoạn Xuân Diệu ca ngợi mùa thu “mặc dầu ở bên tây vẫn có mùa thu, thiên hạ vẫn cứ thấy mùa thu là ở bên Tàu. Mùa thu cũng đồng một quê quán với Tây Thi, với nàng Tây Thi quá xa nên quá đẹp “ Trong cả Thơ thơ lẫn Gửi hương cho gió, cái chất Trung Hoa này xuất hiện ở nhiều dạng.Trong vốn từ ngữ. Trong cái nhịp thơ tứ tuyệt nói ở trên. Và trong thi liệu : Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi /Tôi yêu Ly Cơ h́nh mơ màng / Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng / Trong cung nhớ nàng Dương Quư Phi. Có cả một bài mang tên Mơ xưa, nhắc lại những Gió liễu chiều c̣n nhớ kẻ dương quan. Yếu tố Trung hoa cố điển ở đây là một bộ phận của yếu tố Việt Nam. Nước Việt trong thời gian. Nước Việt với chiều dài lịch sử, với cái vẻ quư tộc tinh thần... Tất cả lại hiện diện. Xin nói tiếp về Nguyệt cầm. Trăng ở đây được gọi là nguyệt, đàn gọi là cầm. Nguyệt và trăng, đàn và cầm cùng tồn tại song song. Cái hồn hiện đại nhập vào cảnh cũ Linh lung ánh sáng bỗng rùng ḿnh. Nhưng trăng và đàn lại là những motip của thơ cổ phương Đông. C̣n chữ linh lung với nghĩa ánh sáng chấp chới th́ không biết có phải lấy từ bài Ngọc giai oán của Lư Bạch (khước há thủy tinh liêm -- linh lung vọng thu nguyệt),(3) chỉ biết sau Xuân Diệu, không ai dùng nó nữa, và các từ điển tiếng Việt mới in nửa sau thế kỷ XX chỉ ghi lung linh chứ không c̣n ghi linh lung. Với bài viết kinh điển Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đă sớm cảm thấy cái mới ở Xuân Diệu nói riêng và Thơ mới nói chung là là đến từ hội nhập.Gần đây nhà thơ Hoàng Hưng (bài Thơ mới và thơ hôm nay) phát hiện thêm. Ông bảo: “thơ Pháp thế kỷ XIX đă thúc đẩy Huy Cận Xuân Diệu t́m ra những ư vị lăng mạn của thơ Đường mà suốt một thế kỷ trước đó, các vị túc nho đă không cảm nhận nổi mà chỉ nhai cái bă niêm luật”. Tức là nhờ hội nhập hôm nay mà ta phát hiện lại thành tựu của hội nhập hôm qua. Ta được làm giàu lên nhiều lần hơn là ta tưởng. Hơn thế nữa, hội nhập không phải chỉ có một chiều là hướng ngoại, hội nhập c̣n là quay trở về phát hiện lại bản thân và nhận diện lại những yếu tố nội sinh. Nói cách khác, nhờ hội nhập mà cốt cách của dân tộc được phát hiện. Xuân Diệu đă làm công việc này một cách có ư thức. Ồng có riêng một bài viết mang tên Tính cách An Nam trong văn chương (báo Ngày nay 28-1-1939 ), ở đó ông nói rằng “Trong ḷng An Nam của chúng ta vẫn có những phần những ư những cảm giác mà người Tây có. Xưa kia ta không nói là v́ ta không ngờ; bây giờ cái năo khoa học của Âu Tây đă cho biết rằng ta có, vẫn có đă lâu những của cải chôn giấu trong ḷng th́ sao ta không nói”(4)
Lịch sử không lặp lại Không phải là thơ Việt Nam sau 1945 không có những đổi mới về h́nh thức, song một sự thay đổi có tính chất bước ngoặt như hồi 1932-41 không c̣n nữa. Nhu cầu của xă hội lúc này là tận dụng sự phát triển đă có từ Thơ mới để hướng thơ vào các hoạt động tuyên truyền giáo dục quần chúng. Ngay ở Sài g̣n trước 1975 nơi sự hội nhập với thế giới c̣n được làm trong lặng lẽ, th́ thơ vẫn không tạo được những bước nhảy đáng kể. Tuy xuất phát từ những t́nh thế khác nhau, song giữa sự t́m ṭi của Thanh Tâm Tuyền, Nhă Ca …với t́m ṭi của Nguyễn Đ́nh Thi, Trần Mai Ninh, Trần Dần, Hữu Loan ở miền Bắc suy cho cùng có sự tương tự. Nh́n chung là thưa vắng lót đót và không sao tạo được cao trào hoặc trở thành xu thế bao trùm. Nổi lên trên bề mặt thơ sau 1945 vẫn là sáng tác của các nhà thơ mới: Huy Cận, Chế Lan Viên Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, ấy là không kể một lớp nhà thơ trẻ mới h́nh thành, tất cả mang lại cho thơ mới một sự hồi sinh, một đỉnh cao thứ hai. Trên hướng phát triển này, Xuân Diệu tiếp tục vị trí hàng đầu của ḿnh. Năng lực của ông không c̣n hướng vào việc t́m ṭi cái mới; có cảm tưởng với ông tất cả đă đủ, vấn đề bây giờ chỉ là t́m cách khai thác tận dụng cái đă có. Mà về việc này th́ từ bản tính “tay hay làm lụng mắt hay kiếm t́m” ông có cả, từ sự thành thạo, tức thói quen lao động siêng năng tới sự nhạy cảm biết t́m ra những phương án tối ưu trong lao động. Thơ Xuân Diệu những năm cuối đời gợi cho ta cảm giác một trái cây không c̣n được tiếp nhựa sống từ toàn thân mà chỉ tự chín, thời gian chín lại kéo quá dài, nên -- nói như dân gian vẫn nói -- chín rụ chín rị, tức có cả cái phần đă đầy, nát, vỡ, lữa ra , là cái phần “suy đồi” xảy ra ở mọi quá tŕnh lăo hóa. Nhưng ở chỗ này nữa lại càng thấy tính chất “đại diện toàn quyền” của Xuân Diệu với Thơ mới. Người ta không thể đ̣i hỏi quá nhiều ở một người. Đặt trên cái nền chung của lịch sử th́ vẫn thấy ông đứng sừng sững ở giai đoạn chuyển đổi của nền thơ Việt Nam, như một thách thức và một điểm đối chiếu.
(1)Xin tạm coi đây mới là một giả thiết, bởi chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu vào bản chất của sonnet và tác động của nó tới các nhà thơ Việt Nam. Chỉ xin lưu ư thêm, sonnet hiện đại thường có 14 câu trong khi tứ tuyệt ba khổ là 12 câu, bốn khổ là 16 câu. (2) Nguyên văn toàn bài:
Thanh xuân Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây Người đi chưa dạt dấu chân bày Bàn tay nằm đó không ngày tháng T́nh ái xin về với cỏ may
Rồi lá mùa xanh cũng đỏ dần C̣n đây niềm hối tiếc thanh xuân Giấc mơ choàng dậy tan h́nh bóng Và nỗi tàn phai gơ một lần
Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài Khuya ch́m trong tiếng khóc tương lai Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối Tôi mất thời gian lỡ nụ cười
Đời sống ôi buồn như cỏ khô Này anh em cũng tợ sương mù Khi về tay nhỏ che trời đất Nghe giá băng ṃn hết tuổi thơ
Trong Thơ Nhă Ca (S. Nxb Ngôn ngữ, 1965 ). Lưu ư là bài này như vậy viết ở Sài G̣n những năm sáu mươi thế kỷ XX, c̣n bài Hoa cỏ may của Xuân Quỳnh viết ở Hà Nội, 1985. Khi thơ Nhă Ca tái bản (S. 1972 ) bài Thanh xuân này xếp vào phần I, mang tên thơ viết thời con gái. Nhă Ca c̣n nhiều bài khác, có cấu tứ tương tự: Ngày tháng trôi đi, Bước tàn phai, Bàn tay chàng, Vết cắt xuân (3) Đây cũng là điều Phan Cự Đệ dẫn trong cuốn Phong trào thơ mới , in lần đầu 1966. Nhà nghiên cứu chỉ không nói rơ do ông t́m ra hay do sự mách bảo của chính Xuân Diệu . (4)T́m đọc bài viết của chúng tôi Xuân Diệu và một quan niệm cởi mở về íính dân tộc trong đó có dẫn lại đầy đủ Tính cách An Nam trong văn chương. Có trong nhiều tập “hồ sơ” về Xuân Diệu đă xuất bản.
Trích từ http://www.viet-studies.info/vtnhan/
o0o
Nguyệt Cầm-Một nốt nhạc buồn của Xuân Diệu
Nguyễn Khánh Thư
Trích từ http://vanhoc.xitrum.net/tulieu/
Nguyệt Cầm Trăng nhập vào dây cung
nguyệt lạnh Xuân Diệu
Cảm Xúc
Xuân Diệu
|