|
Viết
và
Đọc
Tiểu
Thuyết
Nhất Linh
I. Nói Chung Về Tiểu Thuyết
Những điều lầm lỗi.
Trước hết tôi nói về ư định của một người muốn viết một cuốn sách có
nghệ thuật cao siêu, bền măi với thời gian, như những cuốn Hoà b́nh và
chiến tranh, Anna Kha Lệ Ninh, T́nh nghĩa vợ chồng, Một bản đàn của
Tolstoï, cuốn Những linh hồn chết của Gogol, cuốn Mấy anh em Karamazov,
cuốn Những người bị ám ảnh của Dostoïevsky, cuốn Đỉnh gió hú của nữ văn
hào Anh Emily Brontë, những tiểu thuyết của nữ văn hào Anh G. Eliot v.v...
và độ hơn trăm cuốn sách khác, mỗi cuốn một vẻ, nhưng đều là những sách
hay của nhân loại, đời đời công nhận.
Đó là lư tưởng muốn noi theo của phần đông những người viết tiểu thuyết.
Hoặc có người muốn viết tiểu thuyết loại trinh thám, phiêu lưu v.v...
nhưng nghệ thuật của những cuốn đó cũng không khác nghệ thuật của những
cuốn kể trên. Bây giờ tôi chỉ nói đến Tiểu thuyết hay (không phân biệt
loại ǵ).
Tôi tự đặt ḿnh vào một địa vị những người muốn viết tiểu thuyết và lần
đầu lấy giấy bút ra suy nghĩ.
Người ta định viết để làm ǵ và viết những ǵ?
Có người viết để ghi lên giấy một chuyện riêng (thí dụ: câu chuyện t́nh,
một sự nhớ nhung, một cảnh vui vẻ hoặc sầu thảm trong gia đ́nh v.v...)
Có người viết để ghi một câu chuyện nghe thấy hoặc một cảnh nh́n thấy đă
làm họ cảm động.
Có người viết để đả đảo một sự bất công, để tán dương một cái ǵ tốt đẹp,
để nêu lên một lư thuyết và đặt ra một câu chuyện để thực hiện ư đó (loại
tiểu thuyết này gọi là luận đề tiểu thuyết).
Có người viết chỉ để cám dỗ người đọc, viết những tiểu thuyết có cốt
truyện ngoắt ngoéo, những trường hợp éo le ly kỳ, nhiều chỗ bất ngờ, hồi
hộp.
Có người viết chỉ thấy ḿnh cần phải viết.
Viết để làm ǵ, viết về thứ ǵ, cái đó không quan trọng. Cái quan trọng
nhất là viết có hay không, tức là nghệ thuật có cao không (c̣n thế nào
là hay, là nghệ thuật cao, sẽ bàn sau).
Điều rất giản dị này, giản dị gần như là một sự cố nhiên, điều mà tôi đă
biết từ khi viết những cuốn sách đầu tiên năm mười sáu, mười bẩy tuổi (cuốn
Thôn dă, Hai chị em không hề xuất bản lần nào), điều mà bất cứ văn sĩ
hay độc giả nào cũng biết, thế mà sau hơn hai mươi năm viết văn, tôi mới
nhận ra và chính tôi đă nhiều lần phạm lỗi không cho sự viết hay là cái
chính. Sự lầm lỗi này đa số tiểu thuyết gia có, nhưng trước hết tôi đem
tôi ra làm thí dụ:
1. Sự lầm
lẫn thứ nhất của tôi là lúc mới viết sách tôi chỉ để ư đến các ư thích
của riêng ḿnh.
Tôi thích những truyện về đời riêng của tôi mà tôi thấy rất là lư thú,
chỉ việc đem viết lên giấy và viết xong thấy nó hay ngay. Nhưng nếu đưa
một người khác xem th́ người ấy không thấy hay ở chỗ nào. Tôi đă bị cái
tính yêu riêng những việc ḿnh viết nó huyễn hoặc làm hoa mắt, không
nghĩ đến sự t́m ṭi cái hay. Tôi đă đứng vào vị trí chủ quan, nghĩ là
ḿnh đứng làm chủ mà nhận xét, chứ không đứng vào địa vị khách quan,
nghĩa là ḿnh biến thành một người khách đứng ngoài nh́n vào bằng con
mắt sáng suốt hơn không bị cái yêu cái ghét riêng làm cho thiên vị.
2.
Sự lầm lẫn thứ hai là cái thích những câu văn vẻ. Tôi bị ảnh hưởng
tai hại của sự học ở nhà trường của văn chương Pháp và của văn chương
Tàu hay ta hồi ấy (quăng 1922 - 1930); tôi thích những câu đọc lên nghe
êm tai, nhịp nhàng đăng đối (nhưng trống rỗng) thành thử tôi chỉ cốt
viết ra những câu như thế và cho ngay là truyện của tôi hay.
Tôi c̣n nhớ một lần viết truyện Hồng Nương (không xuất bản), tôi viết
xong một câu rồi đứng lên, đi đi lại lại trong pḥng, trong ḷng sung
sướng mê man, thỉnh thoảng lại ngừng lại đọc to câu đó lên:
"Hồng Nương! Hồng Nương! Sao đêm nay ta đọc đến tên nàng" và tôi quên cả
đi ngủ.
Đến bây giờ thỉnh thoảng tôi cũng đọc lại nhưng chỉ để tự giễu ḿnh sao
một câu như thế lại có thể cho là hay đến mê man.
Ngay đến khi viết truyện đăng báo Phong hoá 1932 - 1933 (năm đó tôi đă
hăm bảy, hăm tám tuổi) mà vẫn c̣n bị câu "văn vẻ" nó quyến rũ.
Thí dụ như câu cuối cùng trong truyện Nắng mới trong rừng xuân: "Đôi bạn
tay cầm tay, nh́n nhau yên lặng, trên đầu gió ŕ rào trong cành thông
như tiếng than văn của buổi chiều". Tuy câu ấy không phải hoàn toàn dở
nhưng bây giờ đọc lại tôi vẫn ao ước rằng không có th́ hơn, hoặc có
nhưng đừng "văn vẻ", "sáo" quá như thế, giản dị hơn như những câu trong
các tiểu thuyết sau này của tôi, viết chỉ cốt tả đúng cảm giác, đúng
những nhận xét của ḿnh; điều cần không phải là câu văn hay mà ở chỗ cảm
giác, nhận xét của ḿnh có ǵ hay không, đặc biệt không.
Trong cuốn Đôi bạn viết về sau, cũng có đoạn tả một đôi t́nh nhân và
tiếng thông reo đúng như trong truyện Nắng mới trong rừng xuân nhưng giá
trị khác hẳn nhau:
"... Dũng ṿng hai tay ra phía sau làm gối ngửa mặt nh́n lên. Ánh nắng
trên lá thông lóe ra thành những ngôi sao; tiếng thông reo nghe như
tiếng bể xa, đều đều không ngớt; Dũng có cái cảm tưởng rằng cái tiếng ấy
có từ đời kiếp nào rồi nhưng đến nay c̣n vương lại âm thầm trong lá
thông.
Không nghe tiếng Loan và Thảo nói chuyện nữa, Dũng nghiêng mặt quay về
phía hai người. Chàng thấp thoáng thấy hai con mắt đen lánh của Loan.
Thấy Dũng bắt gặp ḿnh đương nh́n trộm, Loan vội nhắm mặt lại làm như
ngủ; song biết là Dũng đă thấy rồi, nàng lại vội mở mắt ra rồi qua những
ngọn lá cỏ rung động trước gió, hai người yên lặng nh́n nhau.
Loan chắc Dũng có ư ǵ đổi khắc hẳn trước nên mới nh́n nàng như nh́n một
người t́nh nhân mà không tỏ ư ngượng; Loan cũng sinh liều, âu yếm nh́n
lại Dũng. Giây phút thần tiên của đôi bạn vẫn yêu nhau từ lâu nhưng lần
đầu dám lặng lẽ tỏ ra cho nhau biết.
Dũng toan mỉm cười với Loan v́ trông vẻ mặt Loan, chàng đoán Loan cũng
sắp mỉm cười đáp lại chàng. Nhưng sợ lộ quá, Dũng với một lá cỏ, mím môi
nhấm ngọn lá.
T́nh yêu hai người vẫn đă có từ trước nhưng sao cái phút đầu tiên tỏ ra
cho nhau biết ấy lại quan trọng đến thế; không có ǵ cả mà sao Dũng lại
như vừa thấy một sự thay đổi to tát trong đời, h́nh như tấm ái t́nh của
chàng với Loan chỉ mới có thực, bắt đầu từ phút vừa qua.
Quả tim chàng đập mạnh nhưng ḷng chàng thốt nhiên êm tĩnh lạ thường.
Quăng trời ở giữa chàng và Loan h́nh như không có màu nữa, cao lên và
rộng mênh mông; chắc không bao giờ Dũng quên được h́nh dáng một đám mây
trắng, ngay lúc đó, đương thong thả bay ngang qua, một sự hiển hiện sáng
đẹp, linh động trôi êm nhẹ trong sự yên tĩnh của bầu trời và của ḷng
chàng.
Loan nói:
- Anh yên lặng mà nghe tiếng thông reo... Anh có nghe thấy không?
Dũng đáp:
- Từ năy tôi vẫn nghe và nghe rơ lắm".
Một hôm tôi nghĩ ra một cách đem hết cả những câu văn vẻ của tôi và
những câu văn vẻ khác dịch ra chữ Pháp, tôi thấy chúng chỉ là những câu
rất tầm thường; tôi lại lấy những chỗ nhận xét tinh vi, viết giản dị đem
dịch ra th́ cái hay của nó vẫn c̣n. Việc thử cỏn con này đă cho tôi một
kết quả khá lớn lao v́ nhờ nó mà tôi đă có một quan niệm về nghệ thuật
tiểu thuyết.
Tôi sẽ bày tỏ thêm ở một chỗ khác.
3. Sự lẫm lẫn thứ ba của tôi là tôi đă viết những truyện quyến rũ
người đọc; thực ra ở đây là một sự lầm cố ư v́ lúc đó tôi lại là Giám
đốc tờ Phong hoá, cần phải viết những truyện ngoắt ngoéo, ly kỳ cảm động
vừa tầm hiểu của độc giả, rồi sau khi đă được ḷng tin sẽ đưa dần họ đến
chỗ hiểu những sách có nghệ thuật cao hơn. (Đoạn tuyệt đă lợi ích cho sự
chú ư và hiểu biết Đôi bạn, Bướm trắng). Đây là thời kỳ tôi viết những
truyện ngắn: Giết chồng báo thù chồng, Tháng ngày qua, Nước chảy đôi
ḍng, v.v... và Khái Hưng viết những truyện ngắn tâm lư nông nổi nhưng
cảm động dễ hiểu và rất ly kỳ về cốt truyện. Tôi vẫn biết một cuốn được
nhiều người hoan nghênh không phải tất nhiên là một cuốn sách nghệ thuật
cao, trái lại thế, chín phần mười những sách hay của nhân loại thường
chỉ có một số người thưởng thức lúc đầu - Có lắm cuốn được người đương
thời hâm mộ nhưng chỉ năm mười năm sau không c̣n ai biết đến nó nữa.
Sách của Emily Brontë xuất bản đă hơn trăm năm trước, đến giờ vẫn c̣n
người đọc và thấy hay, mặc dầu lúc mới xuất bản rất ít người thưởng thức.
Nhưng lúc đó, trong người tôi, nhà làm báo át cả nhà viết văn.
4. Điều thứ tư là tôi đă để cái ư định dùng tiểu thuyết làm một việc
ǵ (viết luận đề tiểu thuyết) lên trên cái ư định viết một cuốn tiểu
thuyết hay (xin nhớ rơ là tôi không nói tới sự lầm về viết luận đề tiểu
thuyết). Viết luận đề tiểu thuyết nghĩa là viết tiểu thuyết để nêu lên
một lư thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái ǵ tác giả cho là tốt
đẹp, để đả đảo một cái ǵ tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để
phụng sự, để chứng tỏ một cái ǵ đó, vấn đề này đă làm cho rất nhiều
người bàn căi, tôi sẽ nói rơ hơn ở một chỗ khác.
Đây là cái lầm lớn nhất trong đời văn sĩ của tôi; luận đề tiểu thuyết
của tôi có cuốn Đoạn tuyệt, Hai vẻ đẹp, Lạnh lùng (và ít nhiều truyện
ngắn). Sự hoan nghênh những truyện đó, nhất là Đoạn tuyệt, những lời
khen ngợi của các nhà phê b́nh đă làm cho tôi sau này khó chịu một cách
thành thực.
Tôi khó chịu không phải v́ đă viết tiểu thuyết luận đề mà chính v́ cái
sai lầm thứ tư này nó đă làm cho tôi viết hai cuốn Đoạn tuyệt và Hai vẻ
đẹp (kể cả Lạnh lùng nữa) kém hay. Nếu tôi có cái ư định chính viết hay
đă th́ hai truyện ấy cũng vẫn là hai truyện luận đề, cốt truyện có lẽ
cũng vẫn thế, nhưng tôi sẽ t́m kiếm nhiều chi tiết hay [1] hơn, cố viết
cho đúng tâm lư hơn, cho những nhân vật linh hoạt hơn. Sau hai mươi năm,
giở Đoạn tuyệt đọc lại tôi thấy chỉ có một vài đoạn tả mẹ chồng, nàng
dâu có đôi chút giá trị, c̣n những cái về xung đột mới cũ (ư định chính
của tôi) như việc Loan dọn nhà đi không đem bát hương, Loan đẻ con trai,
lời căi của trạng sư v.v... th́ đến nay chẳng c̣n ǵ là hay nữa.
Về cuốn Lạnh lùng (tuy nghệ thuật cao hơn Đoạn tuyệt) nhưng c̣n bao chi
tiết về tâm hồn một người goá trẻ, khao khát yêu đương v.v... tôi đă bỏ
qua, không chịu t́m kiếm thêm. Độ ấy tôi chỉ coi nhân vật như những quân
cờ để đánh một ván bài, họ không phải là cái chính và chỉ dùng những chi
tiết nào lợi cho cái ư chứng tỏ của ḿnh không theo sát cuộc đời thực là
mục đích chính của tiểu thuyết mà đổi cuộc đời thực đi để lại cho luận
đề của ḿnh.
5. Sự lầm lẫn thứ năm là viết văn một cách cầu kỳ (nhưng cũng may tôi
không phạm sự lầm lỗi này và cả những lầm lỗi sau đây nữa).
6. Sự lầm lỗi thứ sáu là cho tiểu thuyết gia là một người nghĩ cách
giải quyết một vấn đề.
7.
Sự lầm lỗi thứ bảy là viết tiểu thuyết để "làm luân lư".
Tóm lại mấy sự sai lầm chính:
1. Để cái thích riêng của ḿnh nó huyễn hoặc, làm hoa mắt không nghĩ
đến sự t́m ṭi cái hay thực.
2. Để câu văn trống rỗng nhưng du dương, hoặc cầu kỳ nó quyến rũ ḿnh (sau
sẽ nói thêm về văn chương trong tiểu thuyết).
3. Để cái ư định viết hay xuống dưới cái ư định để làm ǵ, viết về thứ
ǵ, (viết về nghị luận, triết lư v.v... th́ cố nhiên là ḿnh viết để làm
một cái ǵ rồi nhưng tiểu thuyết nó có mục đích của nó, sau này nói rơ
thêm).
4. Để nêu một cách giải quyết một vấn đề ǵ. Sự lầm lẫn tiểu thuyết với
cuốn sách giảng giải một tính đố thật là vô lư, nhưng lại có những nhà
phê b́nh vẫn lầm lẫn, và lại có báo đem đăng lên thực là vô lư nữa (đây
là đem xếp đặt cốt truyện để giải quyết chứ không phải kể đời thật rồi
tự nó, nó bày tỏ một cái ǵ). Tôi nhớ có đọc được một nhà văn (mà tôi
quên mất tên) phê b́nh trên báo Cải tạo (xuất bản ở Hà Nội) cho ngay một
cuốn tiểu thuyết là hay, là có giá trị v́ câu chuyện đă giải quyết được
một vấn đề một cách đẹp đẽ. Truyện một người vướng vít với vợ con rồi
giải quyết nỗi khổ trong gia đ́nh bằng cách đăng lính phục vụ quốc gia.
Truyện ấy viết rất dở nhưng nhà phê b́nh kia cho nó là hay, là xây dựng,
là lành mạnh! Đấy chỉ có thể là một bài tuyên truyền người ta vào quân
đội (dùng thể thức tiểu thuyết cũng như các bài dạy người ta cách tránh
nạn xe hơi dùng thể thức thơ lục bát) không để gọi là một tiểu thuyết
hay được.
Tiểu thuyết có ích lợi ǵ?
Đây là một vấn đề lớn lao trong đó bao gồm cả vấn đề nghệ thuật v́ nghệ
thuật, nghệ thuật v́ nhân sinh, đă làm tốn bao nhiêu giấy mực ở các nước
và ở Việt Nam.
Đă có rất nhiều người bàn đến, nhưng số người hiểu được những lời bàn đó
thật ít ỏi [2] . Bấy giờ đem vấn đề ra nói bằng một lối như nói chuyện
thường để mong một số nhiều người hơn có thể hiểu được.
Trước kia vấn đề này đă làm tôi băn khoăn tự hỏi trong gần hai mươi năm.
Phần đông các bạn viết và đọc tiểu thuyết cũng nhiều khi băn khoăn tự
hỏi như vậy.
Vậy tiểu thuyết có ích lợi ǵ?
Ông Đ.T.M. (trong Văn học khảo luận trang 31) có viết: "Một áng danh văn
bao giờ cũng hỗn hợp được hai phần tử: bổ ích và làm vui" [3] (vẫn biết
ông viết về văn học chứ không riêng về tiểu thuyết, nhưng không v́ thế
mà những lời tôi viết sau đây sai nghĩa).
Trước hết phải định nghĩa sự ích lợi. - Ta thường nói "cơm có ích" v́
cơm làm cho ta sống, "quần áo có ích" v́ có nó th́ ta ấm thân, "nhà ở có
ích" v́ có nó th́ ta tránh được mưa nắng.
Nếu sống ở đời, người ta chỉ biết có ăn uống, t́m ấm mái, tránh mưa nắng
th́ đời người cũng như đời một con vật thôi. Nhưng người hơn con vật v́
biết t́m cách làm đời sống đẹp đẽ, văn minh, có giá trị hơn. Ăn không
đủ, người ta làm ra những cái bát ngày một tinh xảo, có vẽ người, vẽ
cảnh để làm cho đẹp mắt; ở cái nhà không đủ, người ta muốn chạm trổ,
muốn cắm hoa, bày tranh, bày tượng; mặc áo người ta muốn áo dệt đẹp hơn,
thêu hoa thêu bướm; người ta lại muốn nghe đàn hát, nghe kể chuyện cổ
tích, ngâm thơ. Tất cả những cái ấy: tranh, tượng, bức trạm, âm nhạc,
tiểu thuyết, thơ v.v... tất cả những sự thực hiện cái ư muốn làm cho đời
người khác đời con vật, đă làm cho nhân loại sống có giá trị hơn, văn
minh hơn.
Khi nào người ta nói đến văn minh Trung Hoa, người ta nghĩ ngay đến
những bức tranh cổ, các b́nh hoa bằng sứ, những cuốn truyện Đông Chu
liệt quốc, Tam quốc, Tây sương kư, Liêu Trai, thơ của Lư Bạch, Đỗ Phủ,
lư thuyết của Khổng Tử, Lăo Tử, v.v...
Khi nào người ta nói đến văn minh Hy Lạp cổ, người ta nghĩ ngay đến
tượng Nữ thần ở Milo, tượng Cuộc thắng trận Samothrace, người ta nghĩ
đến lâu đài Acropole và những vở kịch, những truyện của Homère, triết lư
của Aristote, v.v...
Người ta đặt ra luân lư khuyên nên làm điều này, đừng làm điều khác,
người ta nêu lên tôn giáo để an ủi những sự đau khổ về đời sống tinh
thần, suy nghiệm về triết lư để làm thoả măn trí muốn hiểu biết, người
ta nêu lên những chủ nghĩa chính trị để mong người ta sống sung sướng
hơn.
Những thứ này, như những thứ trên kia, chung qui cũng chỉ để làm cho đời
người văn minh hơn, đáng sống hơn.
Bây giờ ta nói đến những thứ mà ta thường gọi là văn minh vật chất, thí
dụ như đèn điện, máy vô tuyến điện, xe hơi tàu thuỷ, xe lửa, máy tính,
người máy và các khí cụ dùng nguyên tử lực.
Tất cả những thứ này, những thứ mà chắc ai cũng cho là có ích, chung quy
để làm ǵ, nếu không để cho đời người dễ chịu hơn, sung sướng hơn, có
giá trị hơn (v́ những cái này nếu không làm cho người ta dễ chịu, sung
sướng th́ không ai nghĩ chế ra chúng nó làm ǵ) [4] .
Như vậy th́ tiểu thuyết cũng như luân lư, tôn giáo, chính trị, cũng như
những phát minh của khoa học (đèn điện, tàu bay) đều có ích lợi cho nhân
loại ở chỗ: Đưa người vượt trên mực sống của con vật đến một cuộc đời có
giá trị hơn, văn minh hơn (cả về tinh thần lẫn vật chất).
Cố nhiên những ích lợi kể trên không phải giống nhau. Cái thú ngồi ô-tô
nệm êm, nỗi vui sướng thấy một người thân nhờ liều thuốc chữa khỏi bệnh,
sự an ủi linh hồn về sự tin tưởng vào Đức Phật hay Chúa Giêsu, sự vui vẻ
của một người công dân sống dưới một chế độ chính trị hợp ư muốn, cái
thú ngắm tranh, đọc tiểu thuyết, những thứ đó thật là phức tạp, khó ḷng
đem so sánh với nhau được.
Sự lợi ích của các thứ trên cũng tuỳ từng trường hợp mà hơn kém nhau:
lúc đói th́ người ta cần bát cơm hơn một bài thơ hay, lúc no và nhàn rỗi
th́ cái thú đọc một cuốn tiểu thuyết hoặc nghe máy vô tuyến điện lại
thắng; lúc gặp kẻ cướp th́ người cảnh sát lại cần hơn bát cơm, lúc ốm
th́ ông y sĩ là cả một bài thơ hay. Nếu lấy nguyên tắc "cái ǵ làm cho
đời người sung sướng hơn, văn minh hơn, là cái ấy có ích lợi", th́ sự
suy xét của ḿnh về mọi công việc ở đời sẽ xác đáng hơn.
o0o
Tóm lại tiểu thuyết là một thứ ích lợi v́ nó làm cho đời người có giá
trị, sung sướng, văn minh hơn. Ích lợi của tiểu thuyết ở chỗ đó.
Thạch Lam trong cuốn Theo ḍng, đă viết: "Tiểu thuyết có ích lợi rất lớn,
và theo ư tôi, quan trọng nhất; tiểu thuyết dạy ta biết sống, nghĩa là
dạy ta biết sung sướng. Sống! Nhiều người không đọc tiểu thuyết bao giờ
mà vẫn sống như thường và chẳng đợi bài học của tiểu thuyết họ mới sung
sướng. Đă đành thế nhưng biết sung sướng cũng không phải là không khó
khăn. Có những người sống như cây cỏ, một đời sống tẻ ngắt và khô khan
phẳng lặng như mặt nước ao tù. Nếu chỉ ăn với ngủ, với chơi th́ cái đời
sống đó chẳng có ǵ đáng quư: cái đời sống cần là cái đời sống bên trong,
cái đời sống của tâm hồn"... "Ấy chính là tiểu thuyết sẽ đem lại sự
phong phú dồi dào đến cho tâm hồn chúng ta. Ta sẽ được biết nhiều trạng
thái và thay đổi của các tâm hồn mà nhà văn diễn tả, nhận xét được những
màu sắc mong manh của tâm lư, chúng ta sẽ tập cảm xúc sâu xa và mănh
liệt, biết rung động hơn... và khi biết phân tách và suy xét kỹ càng tâm
hồn của những nhân vật tưởng tượng kia, chúng ta sẽ sống đầy đủ hơn" ...
"Và tôi tưởng quyển tiểu thuyết hay nhất - hay công dụng nhất - là cuốn
tiểu thuyết sẽ làm cho chúng ta yêu, ham muốn yêu, không phải yêu một
người nhưng yêu mọi người, không phải yêu một vật, nhưng yêu mọi vật.
Hiểu biết t́nh yêu, thưởng thức những thú vị phức tạp và nhiều màu sắc
của t́nh yêu c̣n ǵ sung sướng hơn nữa... Chính nhà tiểu thuyết gia có
biệt tài là nhà văn đă diễn tả đúng và thấu đáo cái tâm lư uyển chuyển
của người, nhà văn chính ḿnh có một tâm hồn rất phức tạp và giàu có".
Theo Đ.T.M. th́ "bổ ích và làm vui" (làm vui đây chắc ông M. định ư nói
tiêu khiển), theo Thạch Lam th́ tiểu thuyết giúp người ta biết sống hơn,
sống đầy đủ hơn, phong phú dồi dào hơn.
Theo ư tôi (tuy cái thú đọc để biết sống phong phú khác cái thú đọc chỉ
cốt để giải trí hay để quên) tất cả những thứ đó cũng chỉ là một thôi.
Đọc để giải trí, mua vui, mua buồn, thoát ly đời thực tế hay để biết
sống phong phú, đằng nào cũng vậy; cái chính là độc giả đă có cái thú
thanh tao đọc tiểu thuyết, có cái thú đó là đủ rồi.
Đây là tôi đă trả lời những người khó tính vẫn thường nói: "Ồ, tiểu
thuyết, thơ văn ích lợi ǵ cho đời người". Truyền rằng trước kia đă có
người đem ṿng hoa choàng lên đầu thi sĩ (tỏ ư kính trọng) rồi đuổi họ
ra khỏi thành, cho hạng thi sĩ là không cần. Nếu họ đuổi cả thi sĩ, hoạ
sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, th́ cái văn minh của họ c̣n có cái ǵ, c̣n lại vài
ông tướng với mấy ngh́n quân, vài trăm nhà buôn bán, dăm ngh́n công nhân,
v́ những người đó là cần. Họ đă đuổi văn minh ra ngoài thành.
Ta không nên lẫn cái "cần" với cái "văn minh" của loài người.
Cái cần về ăn uống chỉ là cái cần của một con vật, cái cần có binh lính
để đánh nhau, cái cần có lệ luật, có binh đội cũng chỉ là cái cần mà sự
xấu xa của con người gây nên. Những cái đó chỉ cần để bảo vệ văn minh mà
thôi - vẫn biết cái cần là gấp, có thực mới vực được đạo, nhưng chớ để
cái giá trị sự ăn lên trên đạo, - cũng như ta đi đánh nhau để bảo vệ văn
minh tự do nhưng chớ để cái giá trị của chiến tranh lên trên giá trị của
nền văn minh và tự do.
Chắc bây giờ không ai không để giá trị của cụ Nguyễn Du, tác giả cuốn
tiểu thuyết bằng thơ Kim Vân Kiều, lên trên giá trị một ông Thượng thư
hay một ông Đại tướng hồi đó.
Các ông Thượng, ông tướng đă làm cho những việc cần hồi đó nhưng đến bây
giờ các ông c̣n giúp ích cho ai? C̣n cụ Nguyễn Du trong một trăm năm nay
đă giúp nền văn minh của Việt Nam rực rỡ hơn, đă làm cho trăm triệu
người Việt đời nọ nối đời kia sung sướng hơn.
Nói rộng ra toàn thế giới th́ nhà viết kịch người Anh, ông William
Shakespeare, nhà viết tiểu thuyết Nga, ông Tolstoï, đă giúp ích cho nhân
loại, người th́ trong mấy trăm năm, người gần trăm năm và có lẽ muôn đời
về sau. C̣n những ông Thủ tướng, Thượng thư nước Nga, nước Anh thời đó,
th́ đến bây giờ c̣n có ích ǵ cho hai nước đó và cho nhân loại.
Ta chỉ tưởng tượng nếu nhân loại không có văn hoá [5] th́ sẽ sống một
đời nghèo nàn đến đâu, cho dẫu là nhân loại đă t́m đủ được các thứ thuốc
để chữa khỏi mọi bệnh, đă t́m ra được một chế độ người nào cũng chỉ làm
mỗi ngày một giờ là đủ sống, có đủ các thứ tiện lợi vật chất: có ô tô,
tàu bay, tủ lạnh, quạt máy, buồng tắm nước lạnh, nước nóng v.v... có đủ
hết, nhưng một đời như thế đă đủ gọi là đáng sống chưa? Cái thiên đ́nh
mà mọi chủ nghĩa chính trị đều muốn đưa nhân loại tới chưa hẳn là thiên
đ́nh và cũng v́ thế nên chủ nghĩa chính trị nào cũng để ư đến văn hoá
th́ tiểu thuyết giữ một phần. Văn hoá là cái mục đích cuối cùng của mọi
chủ nghĩa; nó vẫn không cần bằng việc đ̣i cơm áo, hoà b́nh, nhưng nó là
cái lẽ sống của một nhân loại đáng gọi là nhân loại.
Để kết thúc đoạn nói về ích lợi của tiểu thuyết đối với con người, tôi
đem ra một thí dụ:
Ai cũng nói một cuốn sách giáo khoa có ích (sách giáo khoa rất ít người
đọc để tiêu khiển). Bây giờ hỏi một học sinh tại sao sách giáo khoa lại
có ích th́ học sinh sẽ trả lời ngay: có ích v́ có sách đó tôi mới thi đơ,
và có thi đỗ th́ mới kiếm được việc làm [6] , nhưng thực ra mục đích
chính của giáo dục là làm cho người ta hiểu biết mọi việc hơn, để giúp
đỡ một cách có hiệu nghiệm hơn cái xă hội ḿnh sống, gây dựng một nền
văn minh một ngày một tốt đẹp hơn. Họ nói sách giáo khoa có ích v́ nhờ
nó mà thi đỗ là họ nói một cách đơn giản cái mà họ nghĩ đến đầu tiên.
C̣n đa số những người nói về tiểu thuyết cũng cho ngay là đọc tiểu
thuyết để tiêu khiển, giải trí. Đây là họ cũng nói một cách đơn giản cái
mà họ nghĩ đến đầu tiên. Thực ra giải trí hay thi đỗ chỉ là những cái nó
lộ ra trước nhất. Có lắm người đọc tiểu thuyết không để giải trí, họ đọc
v́ là cái cần của tâm hồn họ, họ đọc chỉ cốt để được cái thú đọc tiểu
thuyết, một cái thú thanh cao của người văn minh. Trong số người (phần
đông) đọc tiểu thuyết chỉ cốt để giải trí, họ cũng có như hạng trên cái
sung sướng đó, đời sống họ nhờ sự giải trí này đă thành một đời sống có
giá trị hơn, đáng sống hơn. Chỉ khác là họ không nhận thấy cái ư nghĩa
sâu xa cũng như cậu học sinh chỉ biết học để thi đỗ.
C̣n những thứ tiêu khiển khác th́ có hai loại, một là chỉ để tiêu khiển
thôi, như đánh cờ, đánh tam cúc không tiền, chơi tem, hai là để tiêu
khiển nhưng có mang hại như đánh bạc, hút thuốc phiện. Loại thứ nhứt tuy
không ích lợi theo định nghĩa sự lợi ích trên kia nhưng nó cũng có ích ở
chỗ là đă giải trí được người ta.
o0o
II. Viết Tiểu Thuyết
Đây là phần nói về việc viết tiểu thuyết, (vẫn là cái ư muốn viết những
cuốn sách hay và lâu bền, c̣n như muốn viết một cuốn để bán chạy, để
tuyên truyền một cái ǵ nhất thời hoặc để sinh nhai th́ là chuyện khác).
Đại cương của truyện
Trước hết một người viết một tiểu thuyết phải biết rơ ḿnh định viết về
cái ǵ?
Thí dụ ḿnh định viết về: T́nh thương yêu của hai mẹ con; những nỗi khổ
trong lúc loạn ly; giá trị của đồng tiền; đời gian nan của một chiến sĩ
cách mạng; t́nh yêu ngang trái của một đôi trai gái; nỗi khổ của một
công dân, sự xung đột mới cũ; một người đàn bà giết chồng v.v...
Những đầu đề này có hàng ngh́n hàng vạn; loài người có thể viết hàng
ngh́n đời không hết và mỗi một đề cũng đủ cho hàng ngh́n người viết mà
vẫn khác nhau. Nhưng ḿnh chọn đề nào cần nhất là ḿnh phải thành thực
là chính trong thâm tâm, ḿnh thấy thích viết đề đó, quả thực ḿnh thấy
ḿnh cảm động trước những cảnh về đề đó. Hơn nữa ḿnh đoán thấy trong đề
đó có nhiều cái hay.
Cần tránh nhất là theo thời, thấy có phong trào b́nh dân ḿnh cũng viết
truyện về dân thợ, dân quê mặc dầu ḿnh không để ư đến họ bao giờ mà
cũng không thích viết về họ. Ḿnh đă làm một việc giả dối. Mà nếu ḿnh
giả dối, ḿnh không bao giờ có những rung động thật, khó ḷng tác phẩm
ḿnh hay được.
Ḿnh đừng để những sự chiều ḷng độc giả, cái hám danh nhất thời lên
trên sự thành thực. Ḿnh vẫn có thể viết về những đề mà người đương thời
thích nếu trong thâm tâm ḿnh cũng thích viết những đề đó.
Chọn được đầu đề rồi, ḿnh nghĩ qua cốt truyện, nghĩ qua thôi. V́ một là
cốt truyện không cần lắm, hai là cốt truyện xếp đặt chặt chẽ quá ḿnh
phải uốn nắn cho nhân vật đi theo sát với cốt truyện. Thí dụ tả đời một
người gian, nếu xếp đặt cho người ấy về sau như thế nào cũng vào tù
(khám), tả một người đàn bà ngoại t́nh nếu bắt được thế nào người ấy
cũng phải tự tử th́ ḿnh cứ phải gượng làm theo đó - vẫn biết một người
gian th́ sẽ sống một đời gian, một người đàn bà ngoại t́nh dễ đi đến sự
thất vọng, dễ tự tử - nhưng chỉ biết thế thôi, không phải bất cứ người
gian nào cũng phải vào tù và người đàn bà ngoại t́nh nào cũng tự tử.
Flaubert trong cuốn Bà Bovary cho bà ta tự tử nhưng đúng tâm lư ra việc
bà tự tử không tự nhiên.
Tolstoi trong cuốn Anna Kha Lệ Ninh (tên một bà có ngoại t́nh) cũng cho
bà này tự tử nhưng đối với tâm lư bà ta lúc đó th́ việc tự tử ấy rất
đúng.
Vậy không nên xếp đặt câu chuyện quá, việc xảy ra c̣n tuỳ theo tâm trạng
của nhân vật. Nếu đă xếp đặt th́ cần phải viết có nghệ thuật để việc ấy
tự nhiên.
Nhưng sự thực, đời người có xếp đặt đâu. Mà tiểu thuyết lại là thứ sách
để tả cuộc đời.
“Phần nhiều các nhà văn Pháp, Ư, Việt đều cho rằng cuốn tiểu thuyết phải
xếp đặt cho có đầu, có khúc giữa, có đuôi hẳn hoi, cái ǵ cũng phải đăng
đối, phải qui một mối, gọn gàng, không có ǵ thừa. Họ đem sự sống bao la
phức tạp giam vào một cái lồng nan lề lối, nhưng sự sống đă đi mất chỉ
c̣n trơ lại cái lồng không.
“Văn phái Anh và Nga viết thường không có xếp đặt chặt chẽ, họ để truyện
đi theo ḍng đời không cần đăng đối gọn gàng, nghĩa là tiểu thuyết cũng
phức tạp, lộn xộn linh động như cuộc đời cả bề rộng lẫn bề sâu".
“Đáng lẽ là một sự xếp đặt không chặt hay là những mánh khoé lề lối khô
khan chúng ta tưởng nh́n thấy... mặt nước hồ mông lung phản chiếu tất cả
màu sắc của cuộc sống, long lanh trải ra và lắng xuống khiến chúng ta
hiểu, thấy được rộng răi, và sâu sắc hơn… Cho nên văn chương Anh và Nga
chúng ta thấy gần sự thực hơn, gần cuộc đời hơn các nền văn chương
khác... Và ngay nhiều tiểu thuyết có giá trị vào bực nhất của Pháp cũng
là những sách có tính cách này, thí dụ như cuốn Le Rouge et Noir (đỏ,
đen) của Stendhal [7]
Các nhân vật
Sau khi t́m được đầu đề, ta nghĩ đến cái đại cương của cốt truyện; biết
được đại cương cốt truyện rồi việc đầu tiên là định các nhân vật.
Không thể nào viết truyện hay, nếu nhân vật chỉ lờ mờ trong óc.
Mà nói đến nhân vật, ta có trước mắt ta, trong đời sống của ta, biết bao
nhiêu mẫu người, hàng trăm hàng ngh́n. Ta chỉ cần quan sát họ. C̣n người
th́ ở đời không có một người nào giống người nào cũng như có muôn ức
triệu lá cây không có lá nào giống một lá nào. Bất cứ gặp ai chỉ trong
nửa giờ là ta đă biết gần đủ các chi tiết về h́nh thức người ấy, về cử
chỉ, ngôn ngữ và có khi cả tính nết, tâm t́nh họ. C̣n như những cảm giác
ư nghĩ sâu và thầm kín th́ ta đem chính ḷng ta mà suy nghĩ. Câu "suy
bụng ta ra bụng người" phải là câu châm ngôn của các tiểu thuyết gia.
Viết tiểu thuyết, là cả cuộc đời mà trong đó hầu hết là tả đời con người.
[8]
Vậy là một tiểu thuyết gia, ta phải để ư quan sát con người và diễn tả
cả bề ngoài lẫn bề trong thế nào cho những nhân vật đó đúng sự thực, có
vẻ sống, linh động, không giống hẳn nhau như những tượng đúc một khuôn
mà cũng không lờ mờ.
Định một nhân vật ta phải để ư đến bốn thứ: T́nh t́nh, cử chỉ, lời nói,
h́nh dáng.
Tính t́nh. - [9] "Mỗi người mỗi tính", câu thường nói ấy ta có thể lấy
làm căn cứ. Người th́ hiền lành, người th́ hà tiện bủn xỉn, người th́
ham công danh, người th́ ngờ nghệch, người th́ hay để ư đến cái nhỏ nhặt
v.v... trăm người trăm tính mà kể cả những người có tính chung là hà
tiện cũng mỗi người hà tiện một lối khác.
Tính nết của nhân vật không bao giờ cũng như bao giờ v́ nó có thể thay
đổi với thời gian và hoàn cảnh; một người lúc trẻ có tính ăn chơi khi về
già lại chí thú làm ăn, người đương giàu lâm cảnh nghèo, tính nết cũng
thay đổi.
Ta lại phải t́m kiếm những cái riêng biệt của từng tính nết, thí dụ,
người này trong việc buôn bán th́ tính toán từng xu nhưng lúc nào cao
hứng lại phao phúng, có người đă nói làm việc ǵ th́ thế nào cũng làm
theo đúng lời ḿnh nói mặc dầu biết ḿnh trái, v.v... cứ quan sát những
người chung quanh, ta thấy ai cũng có những tính riêng biệt ấy.
Lại c̣n tâm hồn nhân vật nữa: người th́ tâm hồn thanh cao, người th́ bần
tiện, người có tâm hồn đơn giản, người th́ phức tạp, người th́ lạ lùng
v.v...
Cố nhiên là nhân vật trong truyện có khi ta lấy cả một người làm mẫu
nhưng thường th́ ta lấy ở người này một ít, ở người khác một ít và tạo
nên những nhân vật của ta.
Việc diễn tả tâm hồn và những sự uẩn khúc của tâm hồn đó, những ư nghĩa
thầm kín của các nhân vật là việc khó nhất và cuốn sách có giá trị và có
sâu sắc hay không một phần lớn là ở việc này (sẽ nói thêm vào một mục
riêng).
H́nh dáng. - Dáng người đại khái là: người béo hay gầy, nét mặt, chân
tay ra sao. Người Tây phương có lối tả tỉ mỉ từ lông mi, lông mày, mắt,
mũi, mồm, tả thật dài và tả ngay ra một lúc. Người Đông phương th́ ưa tả
bằng một vài nét đơn sơ.
Theo ư riêng tôi th́ nếu cần cũng nên tả tỉ mỉ nhưng không nên tả ngay
vào một lúc, thí dụ nét mặt người ta có phải lúc nào cũng như lúc nào
đâu, nó c̣n biến hoá và nhiễm nhiều vẻ tuỳ ánh sáng, tuỳ tâm trạng và
tuỳ nhân vật trong truyện nh́n lẫn nhau. Có nhiều tác giả tả người cứ
cho ngay là người này đẹp, người kia xấu theo ư tác giả. Những người ấy
có khi lại không đẹp đối với nhân vật trong truyện. Tác giả phải tả
người ấy qua con mắt nh́n của những người trong truyện mới đúng. Như sự
yêu ghét cũng vậy, tác giả không bao giờ được cho người này đáng yêu,
người ấy đáng ghét; đáng ghét hay đáng yêu là tuỳ theo cảm tưởng người
trong truyện đối với nhau. Tác giả không nên cho ư kiến riêng của ḿnh,
mà bảo người ấy đẹp, người ấy xấu tức là cho ư kiến riêng rồi.
Nó cũng vô lư như khi tả xong một đoạn kể việc hèn mạt của một người,
tác giả kêu lên: "Thật là một việc đốn mạt vậy thay!" y như các nhà tiểu
thuyết luân lư nước ta ba mươi năm về trước.
Tác giả chỉ nên tả một người để cho độc giả thấy người ấy là đẹp, tác
giả chỉ nên tả những việc làm đáng ghét, hay đốn mạt rồi tự độc giả họ
thấy người ấy đáng ghét, đốn mạt. Tác giả không bao giờ nên tự ư phê
b́nh người và việc trong truyện.
Cử chỉ. - Có người động ngồi xuống là hai bàn tay phải kéo ống quần tây
cho khỏi nát; có người hay chớp mắt luôn; có người hễ nói xong một câu
hùng biện là y như chúm môi, mở to mắt nh́n, vừa ngơ ngác vừa phục ḿnh
là tài; có người hay búng tay; có người lúc giảng giải điều ǵ th́ xoay
xoay bàn tay ḿnh thành ṿng tṛn rồi khi kết luận xong, giơ một ngón
chỉ quàng không như bảo ta: đấy chân lư nó ở chỗ ấy đấy v.v... Tất cả
những thứ trên này và những dáng điệu khác là cử chỉ của một nhân vật.
Nếu chỉ viết: cử chỉ ông ấy thật là điềm đạm, hoặc cậu bé táy máy luôn
tay, th́ nhân vật kém phần linh động. Phải tả một vài cử chỉ để tỏ cho
người ta thấy ông ấy điềm đạm, hay cậu bé táy máy, mà tác giả không cần
nói ra.
Tôi kể trên kia một vài cử chỉ người ta nh́n thấy ngay, nhưng đối với
một người biết quan sát từng li từng tí th́ có những thứ rất tế nhị, có
khi chỉ một cử chỉ cỏn con, một cái nhún vai, một nụ cười gượng, một cái
rung rung của hàng mi ... dùng đúng chỗ đúng lúc cũng có thể mở cửa cho
ta thấy cả tâm hồn của nhân vật. Đă có người ngồi đếm những đoạn Tolstoi
tả về biến chuyển của nét mặt bà Anna Kha Lệ Ninh (biến chuyển của nét
mặt tức là cử chỉ); người ấy tính ra có đến một trăm chỗ tả về nét mặt
của bà Anna!
Vậy ta phải để ư cử chỉ của nhân vật trước việc xảy ra và, nếu có thể,
tả thêm những cử chỉ riêng biệt của từng người.
Lời nói. - Lời nói phải hợp với tuổi, t́nh t́nh, học lực v.v... của từng
nhân vật. Hai cậu bé không thể nói chuyện như hai cụ già, một cô bán
hàng không thể nói văn vẻ như một nhà văn sĩ; người chín chắn nói khác
người nông nổi, bộp chộp ... mỗi người mỗi lời nói, mỗi cách khác nhau.
Nếu biết cách dùng, th́ lời nói cũng như cử chỉ, có thể cho ta nhận thấy
tâm hồn các nhân vật và những chuyển biến ư nhị của tâm hồn họ. Nhưng
lối viết truyện dùng nhiều lời nói thường thường khó hay; lối viết người
nọ nói rồi đến người kia nói nếu kéo dài hàng chục trang, người nói như
người máy, lời nói như cao su cốt được nhiều cột báo để được thêm tiền
nhuận bút th́ không bao giờ hay được.
o0o
Muốn cho nhân vật truyện ḿnh có vẻ "sống" ta phải khéo diễn tả mấy thứ
trên kia.
Ta dựa theo những người ḿnh quen biết và đă quan sát rồi tạo nên nhân
vật. Không phải cứ nhất định lấy cả ở một người, ta lấy ở người này một
ít, ở người khác một ít và cả ở ta nữa rồi chắp lại tạo thành nhân vật
mới, miễn là những cái ta lấy vào không trái ngược nhau.
Nhân vật tức là người với hết thảy những cái tốt cái xấu của con người;
ở đời không có ai hoàn toàn xấu và hoàn toàn tốt. Bất cứ ai chịu thành
thực suy xét về tâm hồn ḿnh sẽ thấy nhiều lúc chính ḿnh có những ư
nghĩ xấu xa vô cùng. Viết tiểu thuyết là tả sự thực, vậy không nên sợ sự
thực.
Đối với một tiểu thuyết gia th́ nhân vật thuộc hạng nào cũng có giá trị
như nhau. Đời vui khổ của một người đi ở, một người phu xe cũng có giá
trị như đời vui khổ của một ông quan, ông vua. Đối với người viết tiểu
thuyết th́ người chỉ là người, không phân biệt địa vị và chức vụ. Hai
cuốn Đông Chu liệt quốc và Tam quốc là hai cuốn tiểu thuyết có giá trị,
nhưng khuyết điểm ở chỗ chỉ nói toàn về hạng vua chúa, không đả động đến
đời sống của thường dân, và khi nói về vua chúa cũng ít đả động đến tâm
hồn họ. Đông Chu hơn Tam quốc ở chỗ tả cả những cái xấu xa, tầm thường ở
trong cung điện.
Nhân vật chính hay phụ ta cũng phải để ư đến ngang nhau. Nhân vật chính
chỉ chính ở chỗ ta nói đến nhiều, nhân vật phụ nói đến ít. Thí dụ: Nhân
vật chính trong một lúc đương tức tối gặp một vai phụ, một người cùng
ngồi ở hàng nước với ḿnh. Nếu tả được người khách một cách linh động và
nếu lời nói, cử chỉ người ấy làm tăng cái hay của đoạn tả cơn tức giận
của vai chính, th́ tội ǵ mà không tả cho cẩn thận.
Có khi ta định được một nhân vật rồi, nửa chừng truyện đến một lúc nào
đó rất có thể nhân vật ấy lại chuyển biến. Có khi một nhân vật phụ lại
biến thành một nhân vật chính và lấn át cả nhân vật ḿnh định cho là
chính. Lại có lúc đương viết, có một nhân vật mà ta chưa nghĩ đến vụt
hiện ra.
Phần đông các tiểu thuyết Pháp và Việt chỉ để ư đến một hai vai chính,
c̣n những vai phụ họ chỉ tả lờ mờ; riêng tôi, tôi thấy cả những vai
chính lẫn vai phụ trong các truyện của tôi đều tả lờ mờ; Loan và Dũng
trong Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Nhung và Nghĩa trong Lạnh lùng, Thu trong
Bướm trắng đều là những nhân vật mà tôi cho là "tạm được" không có ǵ
đặc sắc. Trong tất cả những nhân vật các truyện của tôi, nổi bật hẳn lên,
chỉ có một nhân vật linh hoạt mà lại là một nhân vật phụ: ấy là cô Hà
trong cuốn Đôi bạn (do sự t́nh cờ mà có, chứ thực ra khi mới viết truyện
Đôi bạn tôi không hề nghĩ đến nhân vật đó). Gần mười mấy năm sau khi tạo
ra cô Hà, tôi mới nhận thấy là ḿnh đă không chú ư đến cái đáng lẽ phải
chú ư; giá tất cả những nhân vật phụ và chính của tôi đều linh hoạt như
vai Hà... nhưng độ ấy tôi đă quá chú trọng đến những cái khác nên xao
lăng việc sáng tạo ra những nhân vật "sống".
Nói về nhân vật th́ không người Việt nào không biết đến những nhân vật
trong Kiều hay Tam quốc: Cô Kiều, cô Vân, Tú Bà, Từ Hải, Giác Duyên,
Thúc Sinh, Trương Phi, Lưu Bị, Tào Tháo, Điêu Thuyền; thật là mỗi người
một vẻ. Chỉ đứng về mặt tiểu thuyết thôi không nói đến thơ, Truyện Kiều
có giá trị hơn Phan Trần, Lục Văn Tiên và các truyện bằng thơ khác chính
ở chỗ các nhân vật trong Kiều rơ rệt và sống hơn, từ tính tính đến h́nh
dáng, cử chỉ, lời nói.
Ta không cần t́m đâu xa hơn năm trăm năm trước, cụ Nguyễn Du đă vạch cho
ta thấy rơ rằng nhân vật trong tiểu thuyết cần phải "sống"; cốt truyện
chỉ là cái phụ.
Các việc xảy ra
Định được nhân vật rồi ta thả cho họ sống, sống theo cái đại cương
truyện ḿnh đă định.
Họ sống trong một hoàn cảnh nào (cảnh giàu hay nghèo, ở thôn quê hay
thành thị, thời b́nh hay loạn) là tuỳ theo tác giả thấy hoàn cảnh đó lợi
hay không lợi cho tiểu thuyết ḿnh. Thường thường th́ tác giả hay đặt
truyện trong những hoàn cảnh ḿnh quen thuộc.
Mục này tôi đặt tên là "các việc xảy ra" v́ muốn tránh dùng chữ "cốt
truyện" theo quan niệm của phần đông.
Có nhiều người vẫn thường nói: "Ồ! Cốt truyện cuốn ấy hay lắm" và cho
ngay là cuốn tiểu thuyết ấy có giá trị. Hai cái đó khác xa nhau.
Cốt truyện có thể rất éo le, nhiều chỗ bất ngờ làm cho người đọc hồi hộp,
nhiều cái tính độ khó giải quyết rồi giải quyết được theo ư mong của độc
giả. Thí dụ như những truyện kiếm hiệp, phiêu lưu, trinh thám nhan nhản
ở các tiệm sách và các báo; nhưng cốt truyện hay mà nhân vật không "sống",
không đúng tâm lư th́ cuốn sách nếu không gọi là xoàng th́ cũng chỉ là
một cuốn sách tầm thường không thể cho là có giá trị được. Cao hơn một
bực nữa là những cuốn có cốt truyện hay như cuốn Những kẻ khốn nạn của
Victor Hugo, những tiểu thuyết của Pierre Benoit, cuốn Vô gia đ́nh của
Hector Malot, cuốn Đảo kho vàng, cuốn Ba người ngự lâm pháo thủ v.v...
cốt truyện có ly kỳ thật nhưng v́ tâm lư nhân vật hời hợt nên chỉ là
những cuốn gọi là khá hoặc xem được, không thể liệt vào hạng các sáng
tác của Shakespeare, Tolstoï, Dostoïevsky và những cuốn sách hay khác
của nhân loại.
Trước kia, thời kỳ ta chỉ có toàn những truyện nêu gương luân lư th́
truyện hay là truyện nói đến đôi trai tài gái sắc hoàn toàn tốt gặp
nhiều khó khăn, nhưng sau cùng trai vẫn giữ được trung hiếu, gái vẫn giữ
được hạnh, rồi hai người lấy nhau và đời đời vinh hiển. Nếu chỉ để ư đến
cốt truyện th́ cốt truyện đó hợp với quan niệm về luân lư của các cụ ta
ngày xưa, các cụ cho ngay là truyện hay. Nhưng cốt truyện đó có giống
đời sống thật không? Không, v́ không bao giờ có những nhân vật "nhân tạo"
hoàn toàn tốt ấy, và không bao giờ đời cũng phải kết thúc một cách tốt
đẹp cho đôi trai gái hoàn toàn ấy. Những nhà viết tiểu thuyết hồi đó đă
"g̣" đời theo ư riêng của ḿnh là “cái đức bao giờ cũng phải thắng”. V́
vậy nên những truyện chỉ có cốt truyện đó, tất phải mai một. Thế c̣n
quyển Kiều? Cũng có một cốt truyện tương tự (Đoạn trường Tân Thanh) có
làm cho cuốn Kiều bất hủ đâu (trái lại đoạn tái hồi Kim Trọng mà cụ
Nguyễn Du g̣ gẫm cho vào truyện có thể làm tai hại cho cuốn Kiều nếu cụ
không có nghệ thuật cao siêu), cuốn Kiều sống măi v́ có những nhân vật
sống như đời người thực từ ư nghĩ đến lời nói, cử chỉ (ấy là không kể
cái hay của thơ).
Đấy là quan niệm ngày xưa. Bây giờ ai cũng biết rơ những truyện "anh
hùng liệt nữ" nhân tạo ấy là vô giá trị rồi.
Nhưng bây giờ lại nảy ra một quan niệm về tiểu thuyết luân lư biến h́nh.
Trong một tờ báo hàng ngày, tôi có đọc một bài phê b́nh một cuốn truyện
(tôi không nhớ rơ truyện ǵ) nhưng cái mà tôi c̣n nhớ là phê b́nh đó sau
khi kể qua cốt truyện sách (đại khái vai trong truyện làm một việc đáng
khen ǵ đó) kết luận rằng cuốn ấy có giá trị, mà nhà phê b́nh đó lại
không phê b́nh ǵ về nghệ thuật của truyện. Trời ơi! Nếu cứ viết ra được
một truyện kể công việc oanh liệt, hào hiệp, đáng khen của nhân vật là
viết ra được một tiểu thuyết có giá trị th́ bất kỳ ai mỗi ngày cũng viết
ra được mười truyện có giá trị (nếu tay đưa bút mau được như thế).
Vậy cái "truyện" hay "cốt truyện" trong một tiểu thuyết không có ǵ quan
trọng cả, và nếu vẫn viết với ư định tạo ra một cuốn hay và lâu bền th́
tốt hơn là đừng nghĩ đến truyện [10] , đừng mất công xây dựng "truyện"
một cách tài t́nh, khéo léo. Cần có cái đại cương là đủ rồi.
Ngay trong vở kịch Roméo và Juliet bất hủ của Shakespeare, đoạn cuối tả
Roméo đến nơi, tưởng Juliet chết thật, chàng uống thuốc độc tử tử; khi
chàng vừa chết nằm xuống th́ Juliet cũng vừa tỉnh giấc (v́ nàng có uống
một thứ thuốc khiến nàng trong một thời gian như người chết thật) và khi
nàng thất Roméo đă chết th́ nàng cũng lấy dao tự tử chết theo t́nh nhân.
Thật là nhiều sự dồn dập đến đúng lúc quá thành đoạn này có vẻ "nhân
tạo". Nhưng ở trên sân khấu những cảnh đó không chướng quá nếu người
đóng giỏi.
Lại có những tiểu thuyết hay mà không có truyện cả, thí dụ một vài
truyện vừa hoặc ngắn của văn hào Anh Mansfield và của văn hào Nga
Tchekov.
Edmond Jaloux, nhà văn Pháp đă viết: "Tchekov và Mansfield đă có cái
khôn ngoan muốn tả đời sống những phức tạp của nó mà không có định tâm
làm cho có vẻ tuồng (không như Maupassant, nhà viết truyện ngắn hay nhất
của Pháp), ư muốn dàn cảnh, làm choáng mắt rất tai hại cho nhiều nhà văn
giỏi nước ta (tức nước Pháp). Ở Mansfield không có ǵ như thế cả. Trong
truyện, muốn đi t́m một cái kết thời rất dễ, nhưng cần phải tài giỏi lắm
mới có thể viết mà không cần kết (tôi muốn nói: kết nổi bật lên và g̣
gẫm không ít th́ nhiều) hay đúng ra mỗi một đoạn, mỗi một chi tiết tự
riêng nó thôi nó đă có kết của nó rồi".
Tóm lại tiểu thuyết không phải là không có truyện, nhưng truyện đây là
những việc xảy ra, những chi tiết hay và đúng về các việc xảy ra, đi
theo cái đại cương để diễn tả được cái đề ḿnh đă chọn.
T́m chi tiết
Truyện ngắn hay truyện dài đều do một hay nhiều cảnh liên tiếp nhau tô
tạo lên. Mỗi cảnh đều diễn tả bằng những chi tiết về người, về việc, về
phong cảnh.
Vậy việc cần nhất, cái việc nó định đoạt giá trị một cuốn tiểu thuyết là
t́m chi tiết.
Chi tiết về người (tính t́nh, cử chỉ, h́nh dáng, ngôn ngữ) trên kia tôi
đă nói. Bây giờ nói đến những chi tiết về việc.
Thường thường, trong những cuốn sách hay người ta t́m những việc để diễn
truyện, như vậy linh động hơn. Tác giả nên tránh dùng lời, nhất là lời
nói dài ḍng, hoặc lời giảng giải, hoặc nghị luận. Cũng cần đừng nói rơ
hết, cứ để những việc xảy ra ấy tự nó, nó làm cho độc giả nhận thấy,
đừng chêm lời phê b́nh, đừng chỉ cái này giảng giải cái kia như ông thầy
giáo.
Thí dụ: viết một cuốn tiểu thuyết về ảnh hưởng lớn lao của kim tiền
trong đời sống. Điều cần nhất là t́m những việc xảy ra, tự nó, nó bày tỏ
một cách linh động cái ảnh hưởng ấy. Cuốn sách hay là chính ở chỗ tác
giả nào t́m được nhiều chi tiết hay để diễn tả.
Đừng sợ viết nhiều chi tiết nếu những chi tiết ấy đúng và hay, cái đáng
sợ là tả nhiều chi tiết ấy sai và lạt lẽo. Thí dụ trong truyện, có một
người đăng trí, nếu chỉ nói "Ông X, có tính đăng trí lắm" th́ ai nói
chẳng được. Hơn nhau là ở chỗ t́m một vài việc xảy ra để tỏ rơ sự đăng
trí. Nhưng ḿnh phải cố t́m ra những chi tiết mới, chứ đừng mượn những
việc người khác đă t́m ra trước. Thí dụ "bút ch́ giắt ở tai mà cứ đi t́m
bút ch́" là chi tiết mà nhiều người đă nói đến. C̣n như việc tả sự đăng
trí này là do chính tôi nghĩ ra, hay nói là đă bị th́ đúng: Tôi thường
dậy vào quăng hai, ba giờ sáng để viết; muốn cho tỉnh, tôi ra bàn lấy
chai nước hoa Lavande để xoa đầu. Phiền một nỗi là buồng tôi chỉ có một
cái tủ có để các thứ ăn đêm; tôi ra tủ, cầm cái chai mà tôi mà tôi tưởng
là chai nước hoa để xoa tóc. Xoa đi xoa lại măi nhưng lạ quá không thấy
mát, không thấy mùi thơm.
“Hay là tại ḿnh dốc ít quá.”
Tôi lại dốc thêm cho ướt đẫm tóc và nhận thấy một mùi nước hoa là lạ.
Cho chai "nước hoa" xuống, lúc đó mới biết ḿnh đă dốc gần hết chai Magi
đặt cạnh chai nước hoa. Tôi cứ cúi đầu rồi ra ṿi máy nước gội. Ấy cũng
may không phải là chai đựng nước mắm Phú Quốc.
Việc tả sự đăng trí kể dưới này là mới do một người bạn nói chuyện lại:
Một hôm tôi cởi áo ngủ. Vừa cởi xong áo ngủ, tôi vội lấy quần áo tây mặc
rồi đi ra cửa. Đi một lúc tôi mới sực nhớ ra là lúc năy cởi áo ngủ để
đưa đi giặt và để mặc bộ áo ngủ mới chứ không phải là để định đi đâu.
Đây là việc, viết theo ông bạn kể; trong việc này, các bạn có thể t́m
thêm chi tiết cho hay hơn lên, thí dụ:
Một hôm tôi cởi áo ngủ. Trong lúc đương cởi áo, một vết rượu vang ở tay
áo khiến tôi nhớ đến bữa cơm thân mật hôm trước và vẻ mắt Lan nh́n tôi.
Tôi thấy vui và thổi sáo miệng, vừa thổi vừa với bộ quần áo tây mặc. Tôi
chải đầu, nh́n ngắm ḿnh trong gương và thấy nét mặt ḿnh hôm nay có
duyên hơn. Tôi thắt lại cái cà vạt và lấy làm măn ư. Trời hôm ấy lại đẹp.
Đi một lúc tôi tự hỏi:
“Ḿnh đi có việc ǵ nhỉ?”
Tôi nghĩ măi để cố nhớ ḿnh định đi đâu, nhưng nghĩ măi không ra. Tôi
lẩm bẩm tự trách:
“Ḿnh th́ lúc nào cũng đăng trí, hay quên, lần sau phải ghi ngay vào sổ
tay mới được (tôi đă nhiều lần nghĩ ra việc ǵ để dặn ai, yên trí là sẽ
nhớ, thế mà một lúc sau lại quên bẵng).”
Rồi bỗng tôi vụt nhớ ra, tự nhiên nhớ hay v́ lẽ ǵ tôi không nhớ rơ, có
lẽ bởi mấy chữ quảng cáo nào đó ở tường đă cho tôi liên tưởng đến chữ "giặt".
Th́ ra lúc năy, tôi cởi áo ngủ là cốt để đưa đi giặt và thay bộ áo khác.
Chung qui chỉ lỗi tại cái vết rượu vang và lỗi nặng nhất là cô Lan.
“Nhưng đă mặc quần áo rồi lại về sao? Hay là nhân tiện ḿnh đến thăm Lan.”
Rồi tôi mỉm cười phân vân, không biết lúc năy quả thực ḿnh v́ đăng trí
mà đi hay là ḿnh định đi thật mà không tự biết.
Trên đây chỉ là một vài thí dụ về tính đăng trí: trước hết là một việc
tỏ sự đăng trí, sau là cách dùng việc đó. Cũng là một việc nhưng nếu t́m
được chi tiết hay th́ việc đó thành linh động và sâu sắc ngay.
Tuy đoạn văn có dài thêm nhưng nếu hay hơn th́ càng dài càng tốt; có khi
mười trang hay độc giả lại thấy ngắn và thích thú hơn là một trang nhạt
nhẽo.
Đoạn ngắn ở trên chỉ cho ta biết một việc đăng trí nhưng chỉ có thể thôi;
đoạn dưới vừa linh động hơn vừa cho ta biết cả tâm hồn nhân vật, một anh
chàng đăng trí thật, mặc quần áo đi là v́ đăng trí nhưng ngầm ở trong
tiềm giác [11] cái ư định đến thăm Lan gợi ra bởi cái vết rượu vang nó
làm cho anh ta vui, thổi sáo miệng, mặc quần áo Tây, quên hẳn đi rằng
ḿnh cởi quần áo ngủ để thay quần áo ngủ mới; cái ư định đến thăm Lan nó
điều khiển việc anh ta làm nhưng nó không lộ ra để anh ta biết.
C̣n bao nhiêu thí dụ khác nữa, như tả hai người căi nhau, tả t́nh yêu e
thẹn mới nhóm ở trong ḷng một thiếu nữ, tả buổi chiều buồn ở một ngơ
con trong đám dân nghèo, t́nh thương yêu của hai anh em v.v... có đến
hàng ngh́n vạn cảnh như vậy và cùng một cảnh ấy ngh́n vạn người tả vẫn
khác nhau. Nhưng hơn nhau chỉ có chỗ t́m được những chi tiết hay để cho
cảnh linh động, và để diễn được tâm hồn nhân vật một cách sâu sắc.
Tóm lại có hai việc cần mà người viết văn bao giờ cũng phải chú ư hơn cả:
tả người cho có vẻ "sống" và tả việc một cách linh động. Bằng những chi
tiết hay (các nhà văn hơn kém nhau ở chỗ t́m chi tiết), ḿnh không những
diễn tả việc xảy ra hoặc cử chỉ bề ngoài nhân vật, mà lại c̣n đi sâu vào
tâm hồn nhân vật.
Một cuốn tiểu thuyết cần nhất là sâu sắc. Thế nào gọi là sâu sắc? Sâu
sắc chính là ở chỗ ḿnh diễn tả được tất cả những cái mông lung bí ẩn
của tâm hồn.
Dưới đây là mấy lời phê b́nh cuốn Anna Kha Lệ Ninh của Tolstoï:
"An Na Kha Lệ Ninh không những chỉ là cuốn tiểu thuyết của thế kỷ"
(nghĩa là trong một thế kỷ cuốn ấy trội lên trên hết) và tấn bi kịch
muôn đời tả t́nh yêu tội lỗi; tác phẩm của Tolstoï đứng lên trên hết và
hoàn toàn nhất trong loại văn ấy, ngoài ra không thấy có ǵ nữa,
Fielding trong cuốn Tom Jones, Balzac trong cuốn Cousin Pons, Flaubert
trong cuốn Madame Bovary, không một nhà văn nào lên tới cái mức cao đó.
Tất cả nhà phê b́nh từ Vogue đến Brandès, nói đến cuốn An Na Kha Lệ Ninh
đă dùng hết các loại tiếng khen và tất cả những tiếng khen đó chung qui
gồm ở trong điểm này: Cuốn An Na Kha Lệ Ninh không phải là nghệ thuật
nữa, không phải là sự diễn tả đời sống nữa, nó chính là đời sống, đời
sống rung động và hồi hộp, mà không những chỉ là đời sống bên ngoài mà
c̣n là đời sống bên trong, đời sống bí ẩn của tâm hồn. Không một ai -
ngay cả đến Shakespeare - đă ḍ xét ḷng người thấu tới mực sâu như
thế".
Vậy giá trị của một cuốn tiểu thuyết là đi sâu vào tâm hồn người đời.
Trong các việc đi sâu vào tâm hồn, Tolstoï nói rất ít hay gần như không
giảng giải ǵ về tâm hồn nhân vật; ông chỉ đem những việc xảy ra, những
chi tiết nho nhỏ để diễn tả.
Trong cuốn sách lạ lùng của nữ văn hào Anh Emily Brontë, cuốn Đỉnh gió
hú xuất bản năm 1847, tác giả đă để một người vú già kể chuyện lại. Một
vú già kể chuyện th́ c̣n làm ǵ có những chỗ giảng giải về tâm hồn, ư
nghĩ của nhân vật nữa, tuyệt nhiên không có, tuyệt nhiên u già chỉ là
người đứng ngoài thôi. Thế mà chỉ bằng một giọng kể chuyện rất thường,
bằng những chi tiết, u già đó đă cho người ta thấy tất cả những cái sâu
xa của tâm hồn người trong truyện.
Văn trong tiểu thuyết.
“Trong tiểu thuyết, không cần văn chương”.
Tôi nói thế chắc có nhiều người muốn căi lại ngay. Tôi biết. Và tôi xin
trả lời là tôi nói quá ra như vậy để mọi người chú ư đến cái chính tôi
muốn bày tỏ: văn trong tiểu thuyết là thứ ít quan trọng nhất.
Tôi nói thế để chống lại cái sai lầm (kéo đă quá dài) đặt văn chương lên
một bực quá ư quan trọng trong tiểu thuyết (xin nhớ là tôi chỉ nói đến
địa vị văn chương trong tiểu thuyết thôi) như ở nước ta và ở nước Pháp
mà ta bị ảnh hưởng rất nhiều.
Tôi nói thế để cho hàng ngh́n các anh chị em có khiếu trong đám b́nh dân
ít học và không biết viết văn, chỉ v́ cái sợ viết văn không ra văn, sai
mẹo, sai chính tả không bao giờ nghĩ đến viết tiểu thuyết mặc dù có đủ
những đức tính của một tiểu thuyết gia: một linh hồn phức tạp, dồi dào,
dễ rung động, một bộ óc có trí nhận xét, quan sát tinh vi, hơn cả những
người có học rộng (bởi v́ học rộng đến đâu cũng không làm cho tâm hồn
ḿnh dễ cảm xúc hay nhận xét giỏi hơn) có khi họ lại "thông minh" đây là
sự họ hiểu biết đời, như các bà không có học chỉ nh́n một cử chỉ con,
nghe một lời nói thường, bà ta cũng đoán được cả tâm sự người ấy.
Nếu không bị cái thành kiến văn chương cản trở th́ nước ta đă có thể có
những truyện hay, trước khi ảnh hưởng các tiểu thuyết Âu Mỹ tràn đến
nước ta.
Đă biết bao nhiêu ông đồ, ông khoá, có cái tài kể chuyện rất giỏi. Chỉ
bằng vài nét nho nhỏ, những người đó đă làm cho các nhân vật như sống
dưới mắt ta với cả những việc xảy ra trong đời sống hằng ngày với tất cả
cái phức tạp xấu lẫn đẹp của cuộc đời - Lúc họ kể chuyện họ tự nhiên, họ
thành thực, họ chính là họ - Nhưng đến khi họ định viết thành sách th́
khác hẳn. Họ thấy công việc ấy nghiêm trọng quá, họ sợ sự phê b́nh của
xă hội. Họ không dám viết về một thứ mà họ đă kể miệng rất tự nhiên, họ
bắt họ phải tuân theo luân lư, dư luận; bao nhiêu cái hay lớn nhỏ lúc kể
chuyện họ bỏ đi cả. Họ thấy cần phải viết câu văn đăng đối, nhịp nhàng,
khuôn sáo để khỏi mang tiếng với đời, thành ra chuyện họ kể đến lúc viết
ra chỉ c̣n là cái vỏ trống. Lắm các bà ngồi bán hàng ở chợ trong lúc rồi
nói chuyện về một người khác cùng có cái tài như các ông đồ ông khoá kia,
nhưng họ không bao giờ nghĩ đến viết tiểu thuyết. Có những nhà thi sĩ
không tự biết, th́ cũng có rất nhiều tiểu thuyết gia không tự biết.
Chính tôi đă được nghe một bà kể lại cho nghe một chuyện vừa xảy ra, bà
ta kể một cách linh động và rất dí dỏm đến nỗi tôi thấy tôi cố rán sức
viết lại cũng không thể nào hay hơn được. Bà ấy thực đă "viết tiểu
thuyết" bằng lời nói, bà đă "viết văn" bằng lời nói. Chỉ có việc ghi lên
giấy thôi.
Lúc ghi lên giấy, câu văn có khi không thành câu, tuy mẹo không có chấm
câu, sai chính tả. Cái chính là họ đă có những chi tiết, việc xảy ra
hay, nhận xét đúng, hiểu biết thâm thuư cuộc đời và sự rung động tế nhị;
những cái ấy mới khó, ngh́n vạn người mới có một. Viết xong chỉ việc nhờ
người sửa lại cho đúng mẹo, đúng chính tả, chấm câu cho mạch lạc; việc
này có hàng vạn người làm nổi. Những mánh khóe về viết: đặt câu cho khỏi
sai mẹo, chỗ nào nên xuống ḍng, nên chấm phẩy, chấm câu, chỉ ít lâu là
thâu thái được, không khó ǵ.
Văn không giữ địa vị quan trọng trong tiểu thuyết nhưng tiểu thuyết vẫn
có văn. Vậy văn ấy là ǵ?
Văn ấy trước hết phải thật giản dị. Thế nào là giản dị? Giản dị là viết
như lời nói thường, càng giản dị, càng không có văn chương càng hay. Khi
nh́n th́ nói nh́n, đi th́ nói đi, quả tim đập th́ nói quả tim đập v.v...
Nhưng ai cũng viết được thế? Chính vậy ai cũng cần viết như thế.
Nên tránh hết cả mọi câu cầu kỳ như:
"Nhưng thôi ta không muốn khóc, e hai hàng lệ ta rơi thánh thót vào trái
tim đau đớn".
"Ta ném làn nhỡn tuyến qua cửa sổ; cảm t́nh ta nôn nao như xoáy tận đáy
ḷng: ta đem một khối t́nh oan uổng mà thả vào vũng nước mắt trong".
Nên tránh những câu đăng đối:
"Ngày tháng đổi thay, tang thương biến trải".
"Cỏ lấp ngơ xưa, nhện giăng đường cũ, hoa đào năm ngoái cười xuân, cái
én đưa thoi giục giă".
Nên tránh những câu du dương và trống rỗng:
"Sao anh chẳng lo xa đến cái nỗi gió kép mưa đơn, sương thu nắng hạ, bây
giờ em đă tàn tă trong mưa, tơi bời trước gió".
"Bạn ơi, ngày mới đi về, xuân vẫn thắm mà bông hoa vô t́nh con bướm nó
lượn quanh".
Văn tức là chọn cho thật đúng chữ để diễn tả cái ḿnh định nói.
Thí dụ câu Kiều: "Tú Bà tốc thẳng tới nơi", chữ "tốc" đấy dùng khéo v́
đă diễn được đúng cái ư định tả Tú Bà giận dữ, hung hăng, vội vàng.
Văn tức là xếp đặt chữ, hoặc xếp đặt câu theo một thứ tự nào để chữ và
câu diễn được đúng cái ư ḿnh định diễn tả.
Gọt giũa văn không phải là làm cho câu văn kêu hay du dương hơn, giọt
giũa tức là chọn chữ đặt câu cho diễn tả các việc và chi tiết được đúng
và linh động. Tôi xin nhắc lại lần nữa: cái chính là t́m ra được những
chi tiết hay, nếu không t́m ra được những chi tiết hay th́ có nắn nót
đến mấy đi nữa văn vẫn là văn trống rỗng, không đánh lừa được ai.
Bây giờ tôi lấy mấy thí dụ về các nhà văn gần đây:
Cuốn Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc Khoan được giải nhất về cuộc thi văn
chương toàn quốc năm 1960 và cuốn Mưa đêm cuối năm được giải nh́ -
truyện Chồng con tôi của Duy Lam và các truyện ngắn của B́nh Nguyên Lộc
người đă được chia giải nhất với Vũ Khắc Khoan về cuốn truyện dài Đ̣
Dọc.
Trong cuốn Mưa đêm cuối năm, tác giả [12] đă có được cái chính: một lối
nh́n đời riêng biệt, những nhận xét đúng và hơi là lạ. Nhưng c̣n văn
trong sách đó? Tôi có thể nói là lỗi về văn phạm đầy rẫy, câu nhiều khi
không thành câu, lắm đoạn viết nếu không sáo th́ cũng kỳ quặc, lập dị
hoặc dùng chữ nho không phải chỗ; ông có thể nói một cách đơn giản như
lời bất cứ người ít học nào cũng nói được mà lại diễn tả rơ ràng hơn,
"văn chương" hơn. Nhưng tôi xin nhắc lại: tác giả là một nhà văn có tài,
c̣n những lỗi lầm kia chỉ chú ư một chút hay sửa qua sẽ hết ngay. Đọc
truyện Chồng con tôi của Duy Lam tuy lỗi văn phạm ít hơn những bất kỳ ai
đọc xong cũng đều nói: đây là một truyện dịch văn ngoại quốc (nhân tiện
tôi có một nhận xét là phần nhiều những nhà văn không giỏi Pháp văn lại
viết theo lối đặt câu của văn Pháp, không giỏi chữ nho lại hay dùng chữ
nho; những lối văn tây, hoặc lập dị hơn ba mươi năm trước bắt đầu từ
cuốn Những kẻ chán đời viết khoảng năm 1927, người ta thấy nhan nhản
trong các sách một dạo rồi vụt biến đi đâu mất, cách đây khoảng bảy tám
năm khi Pháp văn chỉ c̣n là một thứ ngoại ngữ, khi các nhà văn chỉ biết
tiếng Pháp một cách sơ sài th́ lối văn lai căng ấy lại thấy vụt ra. Tuy
vậy, ta vẫn rất mừng rằng một số đông thanh niên nam nữ theo chương
tŕnh Việt văn lại trở về lối viết giản dị, Việt Nam, cố dùng những câu,
những chữ rất thông thường mà vẫn tả được đúng cảm giác chân thành và
những ư tưởng phức tạp, uẩn khúc của ḿnh). Truyện Chồng con tôi, viết
đă gần mười năm trước, đến nay Duy Lam cũng trở lại lối văn Việt Nam
giản dị hơn mà vẫn tả được những điều sâu sắc ư nhị hơn như trong truyện
Vực thẳm.
Truyện của Vũ Khắc Khoan với B́nh Nguyên Lộc về nội dung mỗi người một
vẻ nhưng về cách hành văn th́ Vũ Khắc Khoan cẩn thận hơn, thận trọng cân
nhắc từng chữ. Lại c̣n điều này nữa là Vũ Khắc Khoan rất giỏi về Pháp
văn nhưng ông lại viết rất Việt Nam.
Nói tóm lại, khi ḿnh đă có được cái chính (nhận xét đúng, nh́n đời một
cách riêng biệt, t́m được những chi tiết hay, v.v...) th́ ḿnh sẽ thành
được một văn sĩ có tài, c̣n văn chương chỉ là thứ phụ thêm vào.
Tôi c̣n nhớ hồi năm 1941 khi chấm thi giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn, Khái
Hưng và Thế Lữ đă căi nhau kịch liệt v́ hai cuốn Cái nhà gạch của Kim Hà
và Làm dâu của Mạnh Phú Tư. Thế Lữ vẫn chuộng về h́nh thức nên không thể
chịu nổi câu: "Nhà tôi là cái nhà gạch" của Kim Hà và đề nghị gạt bỏ
cuốn Cái nhà gạch đi. Sau cùng năm đó phải tăng gấp đôi số tiền thưởng
và đặt hai giải nhất để tặng hai người. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy cuốn
Cái nhà gạch của Kim Hà hơn hẳn cuốn Làm dâu của Mạnh Phú Tư một bực.
Tuy cuốn Cái nhà gạch không xuất bản nhưng đến nay sau hai chục năm tôi
c̣n nhớ rơ lại những cái hay. Cuốn Làm dâu tuy xuất bản nhưng không để
lại một thứ ǵ đặc biệt trong trí nhớ của tôi nữa.
Các nhà văn trong phái "lập dị" bây giờ, tôi thấy họ chú trọng quá về
h́nh thức nhưng than ôi! H́nh thức của họ chỉ là một thứ h́nh thức kỳ
quặc để cốt độc giả chú ư và tưởng họ thâm thuư. Nhưng độc giả họ tinh
khôn lắm, không dễ bị ai đánh lừa và lối văn lập dị hiện nay chẳng bao
lâu cũng sẽ biến mất. Họ có một điều đáng phục là muốn đi t́m ṭi một
thứ ǵ mới lạ nhưng nếu họ chịu khó t́m ṭi về nội dung họ sẽ thành
công, c̣n như bỏ ruột để chú trọng về cái vỏ ngoài th́ dù đẽo gọt chạm
trổ khéo đến đâu, làm cho nó lạ mắt đến đâu, cái vỏ bao giờ cũng chỉ là
cái vỏ.
Lối hành văn
Câu "le style, c est l homme" mà lần đầu tiên Phạm Quỳnh đă dịch ra: "Văn
tức là người" là một câu vắn tắt chỉ cốt bày tỏ rằng: mỗi người có một
lối văn khắc biệt, không ai giống ai. Tâm hồn nhà văn, ư tưởng cùng sở
thích riêng của từng nhà văn không ít th́ nhiều cũng biểu lộ ra trong
lối hành văn, người đọc có thể nhận được nếu tinh ư.
Những ai đă đọc tất cả các truyện của nhà văn Đỗ Đức Thu từ Vỡ ḷng, Nhà
bên kia, Ba đứa con đến truyện ngắn mới nhất Cúng cơm đều thấy một giọng
đặc biệt "Đỗ Đức Thu" không những về lối hành văn điềm đạm của một người
kể chuyện thủ thỉ một cách hóm hỉnh nhưng không bao giờ cười thành tiếng,
mà cả đến các nhân vật cùng đều có một vẻ điềm tĩnh, giống nhau ở chỗ
rất ít người thông minh, hơi xấu nhưng không xấu hẳn, lúc nào cũng muốn
thoát khỏi cái tầm thường nhưng bao giờ cũng là nhân vật tầm thường. Văn
B́nh Nguyên Lộc (kể những truyện ngắn hay) hơi giống văn Đỗ Đức Thu tuy
không gọt giũa bằng, nhưng lại có một lối nói thẳng tuột ra, có lắm đoạn
sâu sắc, c̣n nhân vật cũng phần nhiều là những nhân vật nếu không mộc
mạc thô lỗ th́ cũng tầm thường trong xă hội. Vũ Khắc Khoan trái lại có
một lối văn lanh lẹn, trong sáng, gọt giũa và nhân vật đều có tâm hồn
thi sĩ, thông minh, lúc nào cũng như muốn nhoi lên để đi t́m một cái ǵ
cao siêu, vơ vẩn. Đây tôi chỉ đem thiển ư nhận định sơ qua về tính cách
hành văn chứ không nói đến chỗ ai hơn ai kém; biết thân cả ba nhà văn đó
nên tôi thấy tâm hồn cùng tính t́nh đều biểu lộ ra lời văn và v́ cả ba
người đều thành thực nên người sao th́ văn như vậy. Đỗ Đức Thu, B́nh
Nguyên Lộc không thể nào gây dựng được những nhân vật cao thượng "Mơ
theo trăng và vơ vẩn cùng mây" cũng như Vũ Đức Khoan không thể tạo nên
những nhân vật "tù lù mù" theo lời ông thường nói giỡn chơi.
Ở các nhà văn ngoại quốc tuy chỉ biết văn, không biết người nhưng lối
hành văn của Alphonse Daudet hoặc Anatole France khác lối văn Balzac,
Flaubert hoặc Emile Zola và qua văn, ta có thể biết được người. Sự băn
khoăn của Tolstoï (nhất là khi ông trở về già) khắc hẳn sự quằn quại
bệnh hoạn của Dostoïevsky; lối văn của Tolstoï lúc nào cũng trong sáng
giản dị như lời nói thường mà vẫn sâu sắc vô cùng. Lối văn của
Dostoïevsky trái lại nặng nề khó hiểu, loanh quanh; nhưng như tôi đă nói
ở trên kia có ẩn một thứ ǵ, không nói đến nhưng người đọc cảm thấy rơ
và những cái không nói đến ấy lại chiếu sáng những cái sâu xa của cuộc
đời, mở cửa cho ḿnh thấy những cái ḿnh không bao giờ tự hiểu được, mà
chính lời nói lại không bao giờ diễn tả nổi.
Nói tóm lại "con người" của nhà văn thế nào cũng biểu lộ ra trong văn,
không sao giấu giếm được.
Có lắm người đùa giỡn nhại văn của một văn sĩ khác nhưng chỉ nhại được
dài lắm là một truyện ngắn; đấy là lúc nào cũng phải hết sức chú ư.
Giọng văn
Nhiều nhà văn thường tự hỏi ḿnh viết văn theo giọng nào: đây là một
định ư trong khi viết, cái cốt chính ḿnh có vốn sẵn rồi. Sự định ư này
làm cho nhà văn có một giọng riêng hay có khi hai giọng; viết lâu và
viết nhiều, lúc đó nhà văn mới ḍ theo ư kiến của độc giả hoặc không đọc
tới văn ḿnh trong một thời gian; sau thời gian đó ḿnh đọc lại văn ḿnh
với con mắt vô tư của một người khác, như vậy dễ biết lối văn nào ḿnh
sở trường nhất.
Ông Đỗ Đức Thu nếu định tâm viết theo giọng khôi hài một cách sỗ sàng
như Nguyễn Công Hoan, bỏ cái giọng điềm tĩnh, hóm hỉnh đi, tất ông sẽ
thất bại. Riêng tôi, trong cuốn Đi tây, tôi đă viết hẳn theo lối khôi
hài nhưng đó thực là làm một tṛ leo dây. Duy Lam cũng đă làm một tṛ
leo dây ấy khi bỏ giọng văn trong Chồng con tôi hay Vực thẳm để viết
truyện Gia đ́nh tôi. Trái lại đối với Linh Bảo th́ giọng khôi hài lại là
một sự tự nhiên.
Trong thế giới, hai nhà văn Charles Dickens và Mark Twain viết theo
giọng khôi hài; Katherine Mansfield, Alphonse Daudet, Anatole France
viết văn trong sáng, thi vị, Gogol, Dostoievsky, Flaubert, Balzac văn
nặng nề g̣ gẫm; Tolstoi không bao giờ khôi hài cho dẫu khôi hài rất nhẹ,
văn không trong sáng hẳn như Daudet hay France, nhưng viết thật giản dị,
giản dị gần như lạt lẽo mà càng đọc càng thấy hay.
Riêng tôi và tôi tin một số nhà văn cũng vậy chắc đă băn khoăn rất nhiều
về việc định viết văn theo giọng nào. Nếu viết như Tolstoï hoặc
Mansfield rất dễ thành lạt lẽo, viết khôi hài như Dickens dễ thành nông
nổi mà viết như Dostoïevsky dễ thành bí hiểm. Đă dành rằng ḿnh phải có
cái chính thức đă (tức là nội dung, nhưng ḿnh có thể viết theo rất
nhiều giọng). Tuyệt đích, đối với tôi là viết giản dị mà không lạt lẽo,
rất b́nh thường mà vẫn sâu sắc, giọng văn hơi điểm một chút khôi hài rất
nhẹ, kín đáo. Tôi chưa thấy nhà văn nào gồm được cả mấy điều đó. Tolstoi
đă gần tới được tuyệt đích đó song c̣n thiếu chút duyên của một nụ cười
quyến rũ; Dostoïevsky trong vài đoạn ở cuốn Anh em Karamazov và L Idiot
(Anh chàng ngốc) cũng có vài đoạn văn duyên dáng là lạ như chỗ tả t́nh
yêu một cô gái hơi điên và khôi hài hẳn như anh chàng ngốc kể chuyện bắn
súng cho hai cô con gái bà chủ nhà.
Viết về loại ǵ?
Các loại truyện có rất nhiều, từ loại triết lư, ái t́nh, phiêu lưu,
trinh thám đến loại xă hội, phong tục, t́nh cảm, v.v... Viết về loại ǵ
là tuỳ sở thích riêng của ḿnh, không nên g̣ gẫm bắt buộc ḿnh viết về
loại mà ḿnh không ưa thích.
Thí dụ bà Tùng Long hay ông Phú Đức viết về loại triết lư chắc cũng buồn
cười như ông B́nh Nguyên Lộc viết truyện kiếm hiệp. Ở nước ḿnh thịnh
hành nhất là lối truyện kỳ t́nh gay cấn, kiếm hiệp, trinh thám và t́nh
cảm (lối dễ dài như Ngọc Giao hồi ba mươi năm trước và như hàng trăm các
nhà văn viết ở các báo hàng ngày hiện nay).
Ở những nước khác (trừ các nước Cộng sản) các loại tiểu thuyết c̣n nhiều
hơn nữa, không kể sao cho xiết.
Về loại tiểu thuyết triết lư, ta cần nói đến cuốn Sparkenbroke của
Charles Morgan nhưng nhà văn hào Anh không đứng vào địa vị một nhà triết
lư mà đứng vào địa vị một tiểu thuyết gia. Gần hơn, có Jean-Paul Sartre
cũng dùng tiểu thuyết để bày tỏ triết lư hiện sinh và Camus trong cuốn L
Etranger (Người xa lạ). Nhưng những nhà văn thâm thuỷ nhất viết về triết
lư mà không đả động tới triết lư vẫn là Shakespeare, Dostoïevsky,
Tolstoï (trong ba nhà văn này, Tolstoï hay bàn luận về triết lư nhiều
nhất nhưng ông để riêng những đoạn đó ra; v́ lời khuyên của bà vợ và các
bạn, về sau ông bỏ đi chỉ để lại rất ít trong tiểu thuyết).
C̣n các loại khác tôi không cần nói đến nhiều v́ phần đông ai cũng biết
rơ.
Tuy chia ra từng loại nhưng thực ra không có loại nào thuần tuư cả.
Truyện ái t́nh pha triết lư, truyện xă hội đá phong tục, truyện kiếm
hiệp cũng trộn lẫn trong đó rất nhiều thứ.
Loại truyện trinh thám mà chỉ chú ư đến t́m ṭi một sự bí mật, giải
quyết một tính đố khó khăn tuy có hấp dẫn nhưng vẫn chỉ là một truyện
tầm thường.
Các nhà văn viết trinh thám bây giờ, họ không theo hẳn lối cổ điển mà
cũng theo hẳn lối mới kiểu như loại "đen tối" (roman noir) và loại "giết
người như ngóe" (roman dur). Thứ truyện trinh thám hay nhất vẫn là thứ
truyện gồm đủ các đặc tính của những truyện hay khác: ngoài cốt truyện
ly kỳ, các nhân vật c̣n phải linh động, tâm lư sâu sắc và cần có một
không khí đặc biệt bao trùm cả truyện. Ở lắm truyện trinh thám thí dụ
như truyện "Merci pour le chocolat" của Dorothy Sayers, tác giả nói hẳn
ra trước ai là thủ phạm, cách giết người ra sao, không c̣n ǵ bí mật nữa
nhưng đọc lại hấp dẫn hơn cả những truyện thật bí ẩn, ly kỳ.
Những truyện Tàu ly kỳ nhất, đọc đi đọc lại không chán vẫn là những
truyện không ly kỳ lắm như Đông Chu liệt quốc, Tây Hán, Thuỷ hử bởi v́ ở
đây ta thấy bên cốt truyện tài t́nh có những nhân vật thật sống, những
lời răn đời không có vẻ dạy đời. Ở trong Thuỷ hử có Lư Quỳ rất hung ác
giết người như ngóe nhưng không ai ghét được Lư Quỳ, Lỗ Trí Thâm uống
rượu, ăn thịt chó, có nhiều cử chỉ rất xấu ở chùa mà sau lại đắc đạo. Ở
những quyển rất dở như Thuyết Đường, La Thông tảo Bắc, nhân vật Tŕnh
Giảo Kim nổi bật lên không phải ở chỗ "đầu voi đuôi chuột" mà ở lời ăn
tiếng nói lỗ măng hóm hỉnh.
Nói tóm lại: ai muốn viết về loại ǵ th́ viết chỉ có một điều cần nhất,
quan trọng nhất - không có điều đó không bao giờ thành công - là trong
thâm tâm ḿnh có thích viết về loại đó không? Để người khác đặt tiền, ép
ḿnh viết về một loại ḿnh không thích, đó là một điều tối kỵ.
Luân lư trong tiểu thuyết
Vấn đề luân lư trong tiểu thuyết là một vấn đề cũng lôi thôi như vấn đề
luân lư, bởi v́ luân lư tuỳ từng thời, tuỳ từng nước có khi tuỳ từng
làng mà thay đổi.
Nói về vấn đề này, ai cũng nghĩ ngay tới truyện Bà Bovary của Flaubert
bảy tám chục năm trước và truyện Người t́nh của bà Chattertey của
Laurence xảy ra mới đây vài tháng.
Trong vụ án Bà Bovary, tác giả đă bị đem ra toà v́ tội khuyến khích sự
ngoại t́nh. Toà tha bổng tác giả. Đến bây giờ chúng ta thấy truyện để
lại là một truyện rất "luân lư" mà tác giả có ư g̣ cho truyện ấy là một
truyện luân lư khi bắt bà Bovary tự vẫn.
Truyện Người t́nh của bà Chattertey nói một cách sỗ sàng, tỉ mỉ hơn.
Truyện ấy đă được dịch ra Pháp văn hơn ba mươi năm trước, dịch ra Nhật
văn gần đây nhưng ở trong nước Anh quê hương của tác giả th́ lại bị cấm
từ lúc viết đến giờ. Gần đây toà án xử vụ đó cũng tha bổng tác giả và
người Anh bây giờ mới được đọc nguyên văn.
Vấn đề này tôi không muốn nói đến nhiều nhưng có một điểm riêng tôi cho
là cần nhất đó là cái ư định của tác giả. Đừng có viết những truyện vô
luân với ư nghĩ câu độc giả hay một chủ tâm định làm một việc vô luân.
Nếu ḷng ḿnh ngay thẳng, không trước th́ sau, ḷng ḿnh sẽ sáng tỏ như
nhật nguyệt.
Văn tả cảnh trong nhà trường
Đối với các bạn học sinh trung học, ta cũng cần (như trên kia đă nói)
phân biệt loại nghị luận và loại tả cảnh. Ở nước ta trước hồi c̣n thuộc
Pháp và ngay cả bây giờ nữa vẫn áp dụng cái lối học thuộc ḷng (về khoa
học cũng như về văn xuôi); lối đó làm cho học sinh sao lăng việc tự ḿnh
nhận xét, t́m những cái mới lạ, văn v́ thế dễ thành sáo hay lạt lẽo.
Ngày trước trong các luận Pháp văn đầy dẫy nhưng câu như: Les prairies
émaillés de fleurs [13] , un doux zéphyr effleure[tran1] les fleurs de
cerisier épanouies [14] v.v... cũng như xưa kia các cụ tả cảnh tuyết rơi.
Bây giờ không đến nỗi thế nhưng hễ ra đầu bài ǵ th́ đa số học sinh viết
rất giống nhau và cũng sáo như nhau. Thí dụ "Tả cảnh gia đ́nh anh một
buổi tối". Thế nào cũng có ông bố ngồi đọc báo dưới ánh đèn, bà mẹ đan
hoặc khâu vá, trẻ con th́ tụm nhau lại học bài... Mà ông bố bà mẹ nào
cũng đều giống nhau ở chỗ hiền từ đủ các tính nết tốt. Tại sao những trẻ
em ở các gia đ́nh có những cảnh bố mẹ gay gắt nhau hoặc d́ ghẻ con chồng
hễ đặt bút là y như tả một gia đ́nh êm ấm.
Lối văn này các bậc giáo sư phải để ư diệt trừ, khuyến khích các học
sinh phải chịu khó nhận xét, t́m ṭi và viết thành thực theo ư ḿnh nghĩ.
Có như vậy tương lai văn hoá thế hệ sau của nước nhà mới mong phong phú
hơn.
Ở các lớp đệ tam trở lên, học sinh giỏi có thể làm được những bài nghị
luận không phải chỉ rành rọt, đủ ư mà c̣n có thể ngầm ẩn một triết lư
hoặc có một giọng riêng biệt, khôi hài hoặc chua chát. Tôi có nhớ được
đọc một bài làm ở nhà trường của G.Courteline viết khi c̣n 17 tuổi; bài
ấy đă để lộ ra đôi chút tài hoạt kê của nhà văn Courteline về sau.
Viết văn tả cảnh cũng có thể thêm vào đôi chút nghị luận nhất là ở đoạn
các nhân vật nói chuyện với nhau hoặc có khi diễn tả được một cách khéo
léo cả những vấn đề triết lư, quan niệm của một học sinh đối với cuộc
sống.
o0o
III. Đọc Tiểu Thuyết
Cái thú đọc sách, đọc tiểu thuyết tôi đă nói đến rất nhiều ở những mục
trên. Nhân loại c̣n th́ c̣n có người đọc sách; nước nào có nhiều người
đọc sách bao giờ cũng văn minh hơn những nước không đọc sách, thờ ơ hoặc
ít người đọc.
Ở nước ta thịnh hành nhất là lối tiểu thuyết bằng thơ như Đoạn trường
Tân Thanh, Phan Trần, Hoa tiên, Bích câu kỳ ngộ, v.v... hay những truyện
rất nôm na như Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa.
Ở bên Trung Hoa hầu hết là tiểu thuyết bằng văn xuôi, phần nhiều là tiểu
thuyết lịch sử có tính cách răn đời, càng về sau tŕnh độ càng kém v́
truyện dựa vào dị đoan, những phép tiên rồi sau cùng đến truyện kiếm
hiệp có tính cách khiêu dâm để câu độc giả.
Ở bên Nhật và các nước Tây Phương sổ sách và số độc giả nhiều quá sức
tưởng tượng. Không một ai có thể tự hào là đọc được hết tiểu thuyết của
nước ḿnh cho dẫu cả đời chỉ chuyên môn đọc sách. Riêng tôi, tôi đă đọc
đến năm sáu trăm cuốn tiểu thuyết trinh thám Anh Mỹ (truyện trinh thám
Pháp tôi đọc rất ít v́ thực ra ít cuốn hay ngoài Maurice Leblanc và
Gaston le Roux; gần đây có G.Siménon viết một trăm bảy mươi cuốn nhưng
đọc vài ba truyện mà người Pháp ca tụng tôi đành phải rút lui ngay).
Có một điều chính là ai thích đọc loại nào th́ đọc loại ấy và cứ xem
những sách của người ta đọc để biết người ấy.
Câu "Văn tức là người" có thể đổi ra "sách đọc tức là người"
Có một câu áp dụng về việc đọc sách rất nhiều ư nghĩa: "Ở các quán trọ Y
Pha Nho anh t́m thấy ở đấy cái ǵ mà anh đem đến". Nghĩa là khi ḿnh đọc
một cuốn sách ḿnh đă định tâm t́m cái ǵ thích thú cho ḿnh trong cuốn
sách đó ḿnh không bao giờ đọc một cuốn truyện mà bản tính không ưa. Nếu
thế th́ sự đọc sách chỉ là một cái tội nợ, không đem lại chi lợi ǵ chỉ
trừ sách cần đọc để nghiên cứu, để thi cử hay để hiểu một điều ǵ ḿnh
muốn hiểu.
Một người thích truyện kiếm hiệp dở cuốn Chiến tranh và Hoà b́nh của
Tolstoï ra, chắc chỉ đọc vài chục trang sẽ tự hỏi: "Cả thế giới ai cũng
khen Tolstoï không biết truyện này hay ở chỗ nào, viết ǵ mà lạt lẽo như
thế này, có mỗi buổi dạ hội mà cũng kéo dài hơn trăm trang" rồi người ấy
bỏ sách đi lấy cuốn Ngũ Hổ b́nh Nam hoặc La Thông tảo Bắc và tấm tắc
khen: "Truyện phải thế này mới là truyện chứ".
Người khác đọc Ngũ hổ b́nh Nam hay La Thông tảo Bắc đến những chỗ các
tướng quăng tửu bối hoá mây đen, gươm đao, hổ sói hùm lang, họ cũng
quăng sách qua cửa sổ và nói: "Truyện ǵ mà quái quỷ như vậy". Rồi họ
lấy cuốn Chiến tranh và Hoà b́nh ra đọc mê man, có khi đọc đi đọc lại
đến năm sáu lượt mà càng đọc lại càng thấy truyện hay hơn những lần
trước.
Trước khi đọc một cuốn sách nào ḿnh cần phải tự hỏi ḿnh định t́m cái
ǵ ở trong truyện ấy. Riêng tôi, tôi đă đọc độ vài ba trăm cuốn tiểu
thuyết Việt, ba bốn chục truyện Tàu, năm sáu trăm truyện trinh thám của
Anh Mỹ và cùng vào khoảng chừng ấy những truyện đủ các loại khác nhau
của Anh Pháp Mỹ từ cuốn Đỏ đen của Stendhal, Middlemarch của Eliot, Jane
Eyre của Charlotte Brontë, Ethan Frome của Edith Wharton đến những
truyện gần đây như Of Human Bondage (Thân phận người đời) của Somerset
Maugham, The Old Man and the Sea (Ông già và biển cả) của Hemingway, v.v...
Tất cả những truyện ấy tôi đă đọc hết nhưng không bao giờ tôi dại dội đi
t́m những "phép tiên" ở cuốn Of Human Bondage và cũng không dại dột đi
t́m những cái ư nhị sâu sắc ở những truyện trinh thám của Phạm Cao Củng,
những truyện kiếm hiệp tân thời của Phú Đức hoặc những truyện phóng tác
của Bà Tùng Long.
Lối đọc truyện cũng có hai thứ: một là đọc thầm lặng vừa đọc vừa suy
nghĩ, hai là đọc to thành tiếng hay nghe người khác đọc lại.
Tôi c̣n nhớ khi mới lên mười một tuổi các anh em bạn học cùng ở chung
một nhà trọ thường góp tiền để thuê các truyện Tàu, nhưng v́ giờ nghỉ ít
ỏi, giờ cho thuê sách lại hạn chế nên phải ngồi quây quần rồi ai tốt
giọng và đọc nhanh thường được anh em giao phó cho công việc "đọc truyện".
Người đọc phải đọc thật nhanh, không được ngừng lấy nửa phút, uống nước
cũng phải có anh em khác rót bưng tận nơi, hầu như hầu một ông chúa. Có
khi vừa đọc vừa uống. Tôi c̣n nhớ đại khái anh bạn trẻ tôi đọc đến chỗ:
"Tŕnh Giảo Kim hươi búa xông tới Phiên tướng, nạt lớn rằng: cho tôi xin
chén nước chè. Nhà ngươi há xưng tên họ ta không thèm đấu với tên vô
danh tiểu tốt. Phiên tướng cũng hươi chuỳ đồng la lớn: Ta là Tổ Xa Luân
đại nguyên suư, chè đặc quá pha cho tôi thêm ít nước lă. Bỗng nhiên mây
đen kéo đến mù mịt Đồ Lư công chúa vừa toan tung cây phi đao th́ .. ấy
chết, mẹ tôi về. Anh em mau mau giở sách Leçon de choses ra, muốn nhuộm
màu xanh người ta lấy cây chàm đem giă nhỏ ra. Lúc ấy mọi người đều muốn
độn thổ. Bà mẹ đi khỏi anh bạn trẻ tôi lại tiếp luôn: Tổ Xa Luân bị phi
đao liệng xuống chặt cụt tay phải. Thừa thế Tần Thúc Bảo đâm cho một
thương trúng yết hầu, quân Phiên chạy như ong, bị quân Đường ùa giết máu
chảy thành sông. Thương thay cho Tổ Xa Luân sức địch muôn người mà thây
bị băm làm trăm mảnh. Tần Thúc Bảo đem việc giết được Tổ Xa Luân báo
cùng Cao Tổ rồi truyền mở tiệc khao thưởng ba quân: giá lúc này có mấy
cái kẹo chanh ăn th́ hay quá. Tiền đây anh Tam chịu khó chạy ra hiệu Ích
Phong..."
Tôi hậm hực chạy như gió (nhanh hơn cả đằng vân) đi mua kẹo, lúc trở về
th́ đă mất đoạn Tŕnh Giảo Kim làm mai để Đồ Lư công chúa kết duyên cùng
La Thông.
Nếu bây giờ cũng c̣n lối đọc to như vậy và thí dụ có số người đọc truyện
Ḍng Sông Thanh Thuỷ của tôi đến chỗ Ngọc giết xong Nghệ và Tứ: "Ngọc
hứng nh́n lên; trời cao và xanh, lơ lửng một vài đám mây trắng. Các ngọn
núi bao bọc chung quanh dưới ánh nắng mùa thu trong có một vẻ đẹp rực rỡ
mà vẻ đẹp của trời thu như c̣n xa hơn nữa; hừ anh Kính cho thêm hộ nước
đá vào cốc Coca cola; nắng đẹp ở vườn sau nhà Thanh, nắng làm rám da mấy
quả lựu và làm hồng đôi g̣ má nàng đương đứng ngắm những cánh hoa lựu
trắng, nắng c̣n đẹp ở những nơi xa, xa nữa... gớm hôm nay nóng thấy mồ,
mai chúng ḿnh lên Đà Lạt mới được, có đi th́ cần đi thật sớm, chiếc DS
19 anh đă bảo cho dầu mỡ chưa, ở nhà Tứ lúc này Nga đang ra vườn cất
quần áo đă khô chợt nhớ đến chồng ... Lệ Thuỷ ở Night - Club thấy chúng
ḿnh lên mừng lắm đấy..."
Được cái may là bây giờ phần đông đọc truyện âm thầm chỉ trừ các cụ già
mắt kém nhờ cháu đọc cho nghe. Có một lần mẹ tôi bảo cháu đọc truyện
ngắn “Một đêm trăng” của Thạch Lam: "Trăng mỗi đêm mỗi... to sáng hơn.
Từ chiều gió... thơm nhẹ đă thoảng tới: bông hồng nhung... thẫm tan...
vào đêm tối c̣n bông... ứ à hồng trắng càng... trắng mát thêm... Tuân
cúi xuống...". Về phần tôi, thực t́nh lúc đó tôi cũng muốn có phép độn
thổ đằng vân hay có ông lang tới thăm bệnh mẹ tôi...
Trước kia Charles Dickens có sang Mỹ đọc truyện của ḿnh cho công chúng
và rất được hoan nghênh nhưng cái tài đọc truyện rất hiếm, vậy tốt hơn
hết là đọc một cách lặng lẽ, có như vậy mới thưởng thức được hết những
cái hay ư nhị, sâu sắc và để hồn phiêu diêu vào một thế giới thanh tao
hoặc để tâm trí suy nghĩ về những điều ḿnh đương đọc.
o0o
Có một điều tôi cần nhấn mạnh là tâm hồn không ăn nhập ǵ với văn bằng
hoặc tiền của. Một nhà triệu phú, một ông tiến sĩ có khi không có một
tâm hồn phong phú như một người buôn thúng bán mẹt ở chợ; có lắm người
đỗ cao, giàu có mà vẫn sống ù ĺ như cây cỏ, chỉ đi t́m những thú vui
tầm thường như cờ bạc, khiêu vũ, v.v... "Con người" không sao định giá
trị bằng tiền của hay văn bằng được. Dân nước ḿnh cũng như dân Nhật đều
là những dân tộc có tâm hồn nghệ sĩ. Vậy những ai ít học không nên v́ lư
do ấy mà bỏ cái thú thanh tao đọc sách như trên kia tôi đă nói và các
bạn nghèo - tức là số đông - sẽ là những độc giả thúc đẩy mạnh nhất nền
văn hoá nước nhà. Trừ một vài truyện về triết lư ra, các bạn nếu có cơ
hội đọc những sách hay của thế giới, thí dụ như Chiến tranh và Hoà b́nh
của Tolstoï, Đỉnh gió hú của Emily Brontë, Cuốn theo chiều gió của
Margaret Mitchell các bạn sẽ thấy không có ǵ khó hiểu cả, những truyện
đó rất gần các bạn mà nếu chịu khó đọc lại lần thứ hai các bạn sẽ thấy
hay hơn lần trước, các bạn sẽ được hưởng những cái thú thanh tao, có thể
tự hào ḿnh là những người văn minh hơn các tay triệu phú ở nhà lầu, đi
xe hơi nhưng tâm hồn nghèo nàn, có rất nhiều phương tiện đọc sách mà lại
chỉ đi t́m những thú vui vật chất rất tầm thường.
Tôi không thể không nghĩ đến điện ảnh đă làm cho các bạn biết được rất
nhiều tiểu thuyết của các văn hào. Nhưng điện ảnh phần nhiều nông cạn,
truyện càng hay bao nhiêu th́ khi đem tŕnh diễn ra phim càng kém đi bấy
nhiêu. Có thể nói cuốn Chiến tranh và hoà b́nh khi chiếu trên màn ảnh
th́ cái hay mười phần hoạ chăng c̣n độ hai ba.
Sự thích của độc giả lại c̣n tuỳ thuộc theo tuổi tác. Lúc c̣n nhỏ tôi đă
đọc cuốn Vô gia đ́nh một cách say mê, đến nay đọc lại tôi thấy cuốn đó
là một cuốn rất tầm thường. Phần đông phải hai mươi tuổi trở lên mới đọc
được đủ các loại sách. Đối với những cuốn tả những cảnh u uẩn uất khúc
cần phải nhiều tuổi hơn, sống nhiều mới hiếu đầy đủ được cái hay.
Để kết thúc tôi dẫn ra một thí dụ có rất nhiều ư nghĩa: Cuốn Đồi thông
hai mộ là một cuốn hết sức tầm thường; cuốn ấy nếu xuất bản trong Nam có
lẽ không ai đọc. Thế mà ở miền Bắc, người ta đă giấu giếm truyền cho
nhau xem; không những thế có người thức luôn mấy đêm chép tay để đọc và
đưa các chỗ bạn bè tin cẩn đọc, rồi cứ thế một ngày một lan rộng bởi họ
đă chán ngấy những tiểu thuyết hết ca tụng cái nọ đến ca tụng cái kia,
đều đều một giọng.
Một hôm ngồi nói chuyện với thi sĩ Đông Hồ, thi sĩ có nói một câu đầy ư
nghĩa: Một người thợ suốt ngày làm việc trong nhà máy không bao giờ xem
những truyện tả cảnh làm việc trong nhà máy, cho dẫu tả sự khổ sở lầm
than của một công nhân hay tả vẻ đẹp riêng của cái máy chạy; người ấy
nếu có th́ giờ nhàn rỗi tất sẽ coi những truyện "mơ theo trăng và vơ vẩn
cùng mây".
Như vậy người nào đọc truyện nào tuỳ sở thích riêng, nhưng phải luôn
luôn cố gắng t́m cái hay ở những truyện hay; họ sẽ được hưởng những thú
thanh tao, tâm hồn họ sẽ đẹp hơn và họ sẽ là những người văn minh hơn.
Sự cố gắng ấy không những lợi cho riêng họ mà lợi chung cho cả một dân
tộc; v́ sự đ̣i hỏi của độc giả, các nhà văn cần phải chịu khó chăm chú
về nghệ thuật, bỏ lối văn "cao su" và dễ dăi; nền văn hoá của cả một dân
tộc sẽ phong phú hơn.
Không phải ở các nhà văn mà chính là ở sự đ̣i hỏi của đa số dân chúng
nên ở các nước Âu Mỹ và Nhật Bản mới có một lâu đài đồ sộ về văn hoá
vượt xa nước ḿnh một bực.
Kể riêng về mặt văn hoá, nước ḿnh có một số nhà văn có thể sánh ngang
với các nhà văn nước khác, nhưng tŕnh độ độc giả lại thấp kém; các nhà
văn Việt Nam không thể sống nổi được nếu cứ cố viết có nghệ thuật cao.
V́ sinh kế họ phải viết theo thị hiếu của độc giả mới có người coi và
sách mới bán được.
Nền văn hoá của một nước cao hay thấp không phải ở chính các nhà văn mà
chính là ở độc giả.
Riêng tôi, tôi không muốn ngừng lại khi viết những ḍng chán nản này.
Hai cuốn Đỏ đen của Stendhal và Đỉnh gió hú không được người đương thời
ưa chuộng, nhưng sau cùng hai cuốn đó lại là những cuốn hay nhất trong
dăm cuốn hay nhất của nước Pháp và của nước Anh. Chậm tuy có chậm nhưng
cũng như kim cương trong bóng tối, lan mọc trong hang, thế nào cũng có
ngày ánh sáng long lanh và hương thơm ngào ngạt.
Có một điều tôi rất tiếc khi viết cuốn này là như trên đă nói - tôi
thiếu rất nhiều tài liệu để dẫn chứng.
Cũng may nhờ có thi sĩ Đông Hồ (từ năm 1952) ông Vương Hồng Sển, thư
viện quốc gia cạnh trường Trương Vĩnh Kư và một số bạn thân gần đây cho
mượn sách nên mới có đôi chút tài liệu. Mong khi in lần thứ hai, nếu
không quá bận về việc sáng tác sẽ xin bổ khuyết những thiếu sót đó.
Chú thích:
[1]Trong sách này sẽ rất nhiều lần nói về hai chữ "chi tiết", vậy phải
giảng giải rơ. Chi tiết đây nghĩa là những cái lặt vặt. Có hai thứ chi
tiết: chi tiết về người và chi tiết về việc. Chi tiết về người tức là
những nét tả về tính nết, cử chỉ, lời nói, ư nghĩ... của một nhân vật
trong truyện làm cho nhân vật đó linh động; chi tiết về việc là những
nét tả về việc xảy ra cho câu chuyện linh động. (Sau này c̣n nói nhiều
về chi tiết v́ đó là một sự rất cần cho câu chuyện thành hay).
[2]Muốn chứng thực lời nói này, xin trích ra đây vài câu bàn về vấn đề
này của ông Đ.T.M, trong cuốn Văn Học Khảo Luận: "Một vài nhà văn chủ
trương rằng: Nghệ thuật là cao thượng tuyệt đối; nghệ sĩ, văn sĩ phải
đứng trên, hay thoát hẳn ra ngoài thực tế. Một vài nhà văn khác phản đối
lại và nói: Văn nghệ không thể có một mục đích tự tại; mục đích văn nghệ
là sinh hoạt xă hội" và "căn cứ vào nghệ thụật các xă hội nguyên thuỷ để
phân tích tương quan giữa cơ sở kinh tế và h́nh thái ư thức của xă hội.
Phải nói thêm rằng quan điểm ấy không phải đơn phương" và câu "Kể có bao
nhiêu h́nh thức của loài người đă kiến thiết trên nền tảng sinh hoạt, có
một vật ǵ là "làm để mà làm?" và câu "Nước ta là một nước lạc hậu về
phần văn hoá, nhưng sự diễn biến vẫn tuần tự theo công lệ "giai tầng".
Trích ra mấy câu này tôi chỉ cốt bày tỏ rằng chỉ một số rất ít người
hiểu được (may ra cũng có tôi trong số đó) c̣n ư tưởng của ông Mai th́
cũng giống tôi, tuy chỉ giống về đại cương.
[3]Không cứ, có khi áng văn hay lại làm cho ta buồn hoặc cảm động, không
buồn cũng không vui, hoặc nửa buồn nửa vui.
[4]Có khi người ta chế ra những quả bom đủ các loại không làm ai sung
sướng cả (trái lại thế) nhưng đó là v́ cái xấu xa của người đời.
[5]Nói sơ lược th́ văn hoá gồm ở trong mỹ nghệ (tranh, tượng, âm nhạc),
văn học (tiểu thuyết, thơ, triết lư, lư thuyết...), tôn giáo, luân lư,
phong tục...
[6]Có nhiều người đi học mục đích không phải để kiếm việc làm.
[8]Tôi viết hầu hết là có người tả con vật với cả tâm hồn nó
nữa. Trong các sách tả về người cũng có thể cho thêm các con vật vào như
chó, gà, chim v.v... hay cả cây, cỏ,dá, sắt, nếu ta tin ở thuyết vật vô
tri vô giác cũng có linh hồn.
[9]Tính t́nh đây bao gồm cả tâm hồn, tính nết, ư nghĩa, cảm giác.
[10]Xin nhớ chữ "truyện" tôi dùng đây chỉ là những cái rắc rối, ngoắt
ngoéo, bất ngờ mà chỉ ở truyện thôi. C̣n những việc xảy ra trong truyện
th́ trái lại, cần phải để ư.
[11]Tiềm giác là cái ngầm ở trong đáy ḷng ḿnh chính ḿnh không biết là
có, nhưng chính cái ngầm ấy nó điều khiển công việc ḿnh làm.
[12]Tác giả Mưa đêm cuối năm là nhà văn Vơ Phiến (chú thích của Nguyễn
Tường Thiết – 2007).
[13]Những đồng cỏ rực rỡ nhiều màu sắc hoa
[14]" Gió đêm lướt qua những bông anh đào nở". Zéphyr nguyên gốc tiếng
Hy Lạp chỉ là gió tây mà gió tây tức là gió Lào lại là một thứ gió nóng.
Dùng chữ Zéphyr các bạn học sinh hồi đó cũng vô t́nh đă bắt chước các cụ
nho viết: "Tuyết rơi lạnh thấu xương". Thực ra lúc tuyết rơi th́ tương
đối ấm, lạnh nhất là lúc tuyết tan và đóng thành băng.
Trích từ
http://maxreading.com/
|