|

1. T́nh sử Phượng cầu Hoàng
“Phượng
hề, phượng
hề quy cố hương
Chu du tứ hải cầu kỳ hoàng”.
Nghệ thuật có mối liên hệ mật thiết, gắn liền với cuộc sống. Là chất liệu,
hồn
và xác, hương
hoa và thể
phách; và, ngược lại. Trong thế giới
nghệ
thuật,
âm nhạc
như
người bạn
đồng
hành với
con người
từ
lúc sinh ra đến khi vĩnh biệt cơi đời.
Âm nhạc
có tác dụng mănh liệt, có sức
lôi cuốn
kỳ lạ,
chất
chứa
đam mê đầy quyến rũ trong tâm hồn theo từng
trạng
thái hỉ,
nộ,
ái,
ố...
biến
thiên theo hệ lụy cuộc sống. Ngôn ngữ của âm nhạc rất đơn
giản
nhưng
biến thành
ngôn ngữ
vô cùng đa dạng, phong phú, vi diệu. Đó
cũng là ngôn ngữ
chung của nhân loại, không
c̣n không gian, thời
gian, không c̣n phái tính, tuổi tác...
cho cả
lúc tỉnh
lúc mê, cho cả cảm nhận của kẻ chính người tà.
Ngôn ngữ
âm nhạc
là ngôn ngữ chung của con người, không có biên cương,
bất
luận
thời
gian... cảm nhận, thưởng thức, rung cảm theo từng
giai điệu, cung bậc.
Nhà văn Kim Dung trong toàn bộ tiểu
thuyết
kiếm
hiệp
từ
“Thư
Kiếm Ân Cừu
Lục”
đến
“Lộc
Đỉnh
Kư”... đă đề cập âm nhạc trở thành “vơ hiệp kỳ
t́nh” trong thế
giới
vơ lâm. Những tay kiếm khách
thượng
thừa
trong chốn vơ lâm đă xử dụng
nhạc
khí như
vơ công tuyệt kỷ
chấn
động
giang hồ. Cây đàn của Côn
Luân tam thánh Hà Túc Đạo
với
“Không Sơn
Điều
Ngữ”
khiến
cả
chim muôn nhập vào cung bậc, ngọc
tiêu của
Đông tà Hoàng Dược Sư,
đảo chủ
Đào Hoa, tiếng đàn của Tây độc Âu Dương
Phong trong “Đàn Chỉ
Thần
Thông”, khúc “Đại Giang Đông Khứ”... làm
đảo
điên quần hùng, gây chấn động
vơ lâm. Tiếng đàn tranh của Âu Dương
Phong đă làm cho Hoàng Dược
Sư
khốn đốn.
Mạc
Đại
tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn,
con người
phiêu lăng, ngao du đây đó với cây
dao cầm
và nổi
danh vơ lâm với khúc “Tiêu Tương
Dạ
Vũ”. Trong đáy cây dao cầm được
giấu
lưỡi
kiếm
nhỏ,
thật
mỏng;
khi Mạc
Đại
rút kiếm,
kiếm
khí vô cùng lợi hại làm vơ lâm khiếp đởm
nên được
xưng
tụng “cầm
trung tàn kiếm, kiếm phát cầm âm”. Cây dao cầm của
nhân vật
quái dị
Khang Quảng Lăng với tiếng
đàn hư
hư thực
thực,
điên đảo
quần
hùng.
Tác phẩm
“Tiếu
Ngạo
Giang Hồ” làm mê say hàng triệu người
trên thế giới, được dựng thành phim rất ăn
khách đă dùng âm nhạc
làm đề
tài cho “vơ hiệp kỳ t́nh”. Lưu
Chính Phong là sư đệ của
Tiêu Tương
Dạ Vũ Mạc
Đại
tiên sinh, chánh đạo & Khúc Dương,
trưởng
lăo Ma giáo, cao thủ của Triêu Dương
thần
giáo, hắc đạo - kẻ thù truyền kiếp
- đem dao cầm và tiêu phổ tạo
thành khúc nhạc Tiếu Ngạo Giang Hồ. Khúc Dương
với thiết
cầm,
Lưu
Chính Phong với tiêu
phổ
cùng song tấu, đem vi diệu của
âm nhạc
vào cơi mộng và thực cuộc đời. Tiếu Ngạo Giang Hồ được
phóng tác từ âm điệu cổ xưa
do hai nhạc
cụ
sáo & đàn phối hợp tuyệt diệu, ḥa điệu với
thiên nhiên “thanh phong minh nguyệt”. Lưu
Chính Phong & Triêu Dương đă phá vỡ, bất
chấp
luật
lệ
phân chia trong giới giang hồ khi
dùng âm nhạc
để
hóa giải
biên giới nên bị thảm bại theo truyền thống
cố
chấp
của
giới
vơ lâm.
Tiếu
Ngạo
Giang Hồ tái xuất giang hồ với
đôi trai tài gái sắc: Lệnh Hồ Xung phái Hoa Sơn
& thánh cô Nhậm Doanh Doanh, ái nữ của
Nhậm
Ngă Hành, giáo chủ Triêu Dương
thần
giáo. Cuộc tao ngộ bất ngờ giữa chàng trai phiêu bạt với
giai nhân nơi
ngơ Lục
Trúc đưa
đến mối
t́nh ngang trái giữa bạch đạo và hắc đạo qua âm nhạc. Khúc
“Tiếu
Ngạo
Giang Hồ” trở thành vơ công tuyệt kỷ,
huyền
diệu,
huyễn
hoặc,
kỳ bí... gây kinh thiện động địa trong chốn vơ
lâm. Trên ba ngh́n anh hùng hảo
hán, vơ nghệ đầy ḿnh, vơ công xuất chúng
đang vây hăm Lệnh
Hồ
Xung để
bỡn
cợt
bỗng
tái mặt
kinh hoàng, tuôn nhau đào thoát khi nghe thoang thoảng
tiếng
nhạc
của
thánh cô làm xiêu hồn bạt vía. Hợp tấu cầm tiêu với Lệnh Hồ Xung & Nhậm Doanh
Doanh, với
âm nhạc,
với
t́nh yêu, với tuyệt kỷ vơ học đă làm mê hoặc con người
qua “Tiếu Ngạo Giang Hồ”. Cảm
nhận
ảnh
hưởng
từ
cung bậc
và nhân vật vào thời xa xưa,
trước
công nguyên để nói lên cái uyên nguyên, huyền nhiệm
của
âm nhạc,
hư
cấu thành
“tác phẩm
nghệ
thuật”
trong thế giới vơ lâm, âm điệu cổ
xưa
đó, thấp thoáng
bóng dáng của
“Phượng
Cầu
Hoàng”.
Tương
truyền rằng,
vào thời
Xuân Thu (722-481 trước công nguyên), Tiêu Sử được
Ngọc
Hoàng ban cho
ống tiêu bằng ngọc;
tiếng
tiêu tựa
hồ
tiếng
phụng
hoàng tung mây lướt gió vừa gáy vừa vũ điệu. Khi Tiêu Sử thổi,
mây ngũ sắc hiện lên, nhấp nhô, bồng
bềnh,
chim chóc bốn phương
bay đến
múa lượn
cùng cất
tiếng
hót chung quanh núi rừng như
thiên đường
huyền
ảo.
Lộng
Ngọc,
con gái vua Tần Mục Công, nhan sắc diễm
ảo,
có tài nghệ thổi
ống sanh. Nhà vua mở cuộc
tuyển
chọn
Pḥ mă nhưng
Lộng
ngọc
chưa
có đối tượng
vừa
ư. Tiêu Sử hạ san, đến chốn cung đ́nh trổ tài nghệ
thổi
tiêu, cả triều đ́nh nhẫn ngơ,
Lộng Ngọc
say đắm.
Nhà vua đúng ra kết duyên Lộng Ngọc
cho Tiêu Sử. Tiêu Sử dạy cho Lộng Ngọc thổi tiêu, trong ṿng nửa năm Lộng
Ngọc
đă thổi
điêu luyện khúc “Phượng
Hoàng”. Khi hai vợ
chồng
ḥa với
nhau khiến cho chim muông, sinh vật lạc
văo cơi âm thanh huyền diệu.
Rồi
một
đêm trăng thanh gió mát, hai vợ chồng
cảm
hứng
đem tiêu & sanh ra họa khúc
“Phượng
Hoàng”, âm thanh thánh thót, cao vút... bay tận trời
xanh. Có con xích long & con tử phụng
bay xuống.
Tiêu Sử
cỡi
xích long, Lộng Ngọc cỡi tử phụng bay thẳng lên
chốn
bồng
lai tiên cảnh.
Nhà Tiền
Hán
ở
Trung Hoa được h́nh thành khi Lưu
Bang lên ngôi Hoàng đế năm 202 trước công
nguyên - Cao tổ
nhà Hán - dựng nên cơ
nghiệp
nhà Hán. Theo “Trung Quốc Sử Cương”,
Hán Vơ Đế
là bậc
hùng tài, sùng nho học,
ưa thần
tiên... v́ vậy “Vua Vơ đế lập
nhạc
phủ,
lượm
những
câu ca của các nước Triệu, Đại, Tần, Sở, sai Lư Diên Nhiên hiệp luật,
Tư
Mă Tương Như đặt lời,
thể
nhạc
phủ
ra đời
từ
đó”. Trước đó, nhă nhạc chỉ
dùng trong các điển lễ của Triều đ́nh rất được tôn sùng nhưng
đến
đời
Hán bị
mất
dần
ảnh
hưởng.
“Nhạc
Phủ
là bài ca phổ vào nhạc, có 2 loại: loại
5 chữ
& loại 7 chữ. Loại 5 chữ chịu
ảnh hưởng của Kinh Thi; loại 7 chữ
chịu
ảnh
hưởng
của
Sở
Từ.
Trong nhạc phủ, thơ
đời Hán đă
có nhiều
bài miêu tả rơ ràng, có nghệ thuật,
và nhiều
bài dân ca giọng mộc mạc, nhưng
cảm
động”
(TQSC). Hán Vũ Đế có công thành lập cơ
quan âm nhạc gọi
là nhạc
phủ
để
sưu
tầm thi
ca, ca dao đem ra phổ
nhạc;
danh xưng
nhạc phủ
h́nh thành từ đó. Trong triều đại đó,
ở đất Lâm Cùng, Thành Đô, nước Thục,
nay là Tứ Xuyên, có chàng Tương
Như tự Tràng
Khanh, sinh năm 179, mất
năm 117 trước công nguyên. Thuở nhỏ
nhà nghèo, tư
chất thông
minh, giỏi
thi phú, có ngón đàn tuyệt diệu,
giỏi
vơ nghệ
nhưng
lận đận
trên bước
đường
công danh. Ông có tên là Khuyển Tử,
lớn
lên đọc
sách, yêu văn chương,
thích hào khí của
Lạn
Tương Như
thời Chiến
Quốc
nên lấy
tên là Tương
Như.
Khi dấn
thân, Tương
Như chỉ giữ
chức
quan nhỏ nên chán nản, bỏ
chức,
ngao du sang nước Lương
giao tiếp
với
nhiều
văn nhân nổi tiếng thời gian rồi trở lại đất Thục. Nhờ giỏi thi phú và có ngón đàn tuyệt diệu
nên Tương
Như được
giới
quan lại,
quư tộc
đón tiếp;
trong đó có quan huyện Lâm Cùng là Vương
Cát, cũng là ân nhân của Tương
Như lúc khốn cùng.
Vương
Cát để Tương
Như ở
Đô Đ́nh, chiêu đăi Tương
Như như vị
khách quư nên bóng dáng chàng lọt vào mắt
nhà đại
quư tộc
Trác Vương
Tôn. Trác vương Tôn có người con gái là Trác Văn Quân, tuyệt sắc
giai nhân, giỏi thi phú, tuổi vừa
mười
tám nhưng
đă góa chồng.
Một
đêm đẹp
trời,
Trác Vương
Tôn mời Vương
Cát & Tương Như đến nhà dự
tiệc.
Vương
Cát hiểu được
dụng
ư nên tỏ ra tâng bốc Tương
Như, khi hơi men đă thấm Vương
Cát đem đàn ra để ḥa nhập
thú vui tao nhă “cầm kỳ thi tửu” trong
khung cảnh
cao sang nhà quư tộc. Theo sự yêu cầu,
Tương
Như cầm
đàn hậu
tạ.
Tương
Như nhờ
cây
ỷ
cầm,
gảy
khúc “Phượng Cầu Hoàng”. Không gian như
lắng
đọng,
thời
gian như
ngừng trôi,
tiếng
đàn réo rắt d́u dặt, du dương,
trầm
bỗng...
lôi cuốn
tâm hồn
phiêu lăng vào cơi mộng mơ.
“Phương ơi! Phượng
ơi! Hăy bay về làng cũ
đi thôi, bao nhiêu năm ngao du bốn bể, mỏi cánh chim bằng t́m
h́nh bóng chim hoàng, ḷng mang nặng sầu vương.
Nơi đây có bóng dáng mỹ nhân,
tuy cùng chung trong gan tấc
nhưng
lại xa
xăm, ḷng nầy
héo ruột
héo gan! Làm sao cho phượng gặp gỡ hoàng! Xin nguyện làm
đôi chim
ương bay măi tận trời
xanh...”.
Trác Văn Quân núp sau rèm, đắm say từng
cung bậc,
say mê, cảm mến, tâm hồn ngất ngây theo khúc nhạc du dương.
H́nh ảnh Tương
Như đă ngự
trị
trong trái tim nàng.
Dư
âm tiếng đàn
réo gọi,
con tim thôi thúc, ngay trong đêm đó Trác Văn Quân, trốn
nhà, lẻn
sang Đô Đ́nh để theo Tương
Như. Trác Vương
Tôn thấy
con gái bỏ nhà theo trai nên vô cùng giận giữ.
Trong thời điểm đó, cả là sự sỉ nhục. Biết được Tương
Như chỉ là nghệ
sĩ lăng du “vô công rỗi việc”, sau thời gian
lang bạt,
“quy cố
hương”,
tá túc nhà Vương Cát để
nương
thân. Trác Vương Tôn giận giữ, không cho tiền bạc,
không cho nương
tựa
để
“loan” theo tiếng gọi t́nh yêu của “phượng”
chịu
cảnh
khổ
đau trong nghèo túng.
Tương
Như & Văn Quân phải bán những vật dụng cần thiết để sống. Đôi t́nh nhân trở lại
Lâm Cùng, mở quán rượu
ở chợ để độ nhật qua ngày. Ván bài “thấu cáy” được
hiệu
nghiệm,
nhà đại
phú gia bị bẽ mặt và không muốn hàng
ngày bị
h́nh
ảnh
nầy
ám
ảnh
nên đành chia sớt tài sản để xây tổ uyên
ương.
Trác Vương Tôn chu cấp cho Tương
Như & Văn Quân cả trăm vạn quan tiền, trăm
nô tỳ và tài sản
của
nàng khi lập gia đ́nh, cho tổ chức
đám cưới.
Vợ
chồng
trở
lại
Thành Đô mua sắm dinh thự, sống
cuộc
đời
vương
giả...
Thời
gian đôi vợ chồng trẻ Tương
Như & Văn Quân sống êm đềm
thơ
phú, rượu bầu,
cầm
ca rất
đẹp
duyên lứa đôi. Tương
Như c̣n có
tài làm phú - một
thể
văn có vần, điệu xen lẫn nhau, văn xuôi có vần, miêu
tả
trực
tiếp
- rất
thịnh
hành thời
ấy. Hán Vũ Đế biết tài, mời về kinh tham chính. Tương
Như có công trong việc thu phục
nhân tâm
ở đất Thục theo nhà Hán, được ban
khen bổng
lộc
triều
đ́nh. Trong các chức vị Tương
Như được vua
ban, chức
Tư
Mă rất phù hợp
với
danh xưng
ông thích nên được gọi
Tư
Mă Tương Như. Sau nầy, thi
hào Bạch
Cư
Dị đời
nhà Đường,
từng
giữ
chức
Thượng
thư
Bộ H́nh.
Khi làm quan chức
Tả
Thập
Di, bị
biếm
chức
làm Tư
Mă
ở
Giang Châu, trong 30 năm làm quan, nhà thơ
Bạch
Cư
Dị lại
thích tước vị Tư
Mă nên người
đời
gọi
ông là Tư
Mă Giang Châu để
nói lên h́nh
ảnh văn nhân hào hoa phong nhă, nghệ
sĩ tài hoa giang hồ, xem công danh nhẹ tựa
gió thoảng mây bay.
Sống
trong bổng lộc, phú quư, ăn chơi...
Tương Như sinh tật.
Tương
Như được
nhiều
người
đẹp
ngưỡng
mộ
nên nỗi
máu phong t́nh, phóng đăng giao du. Khi mê si người
đẹp
đất
Mậu
Lăng, Tương
Như muốn đem về
làm hầu
thiếp
để
chăn gối.
Văn Quân cũng rành về thơ
phú, đau khổ
cho t́nh lang “thả mồi bắt bóng”, nàng viết khúc
“Bạch
Đầu
Ngâm” bày tỏ nỗi sầu bi ai oán khi chứng kiến
người
t́nh “ăn
ở hai ḷng, khi bên nhau chuốc rượu,
lúc lai văng nơi
kia” rồi
gửi
niềm
tâm sự:
“Mong sao người
một dạ
Bạc đầu măi
bên nhau”.
Khúc “Bạch Đầu Ngâm” làm cho Tương
Như thức tỉnh
cơn
mê, chàng dứt bỏ
mối
t́nh si, sống trọn vẹn với h́nh
ảnh người t́nh trăm năm Văn Quân như
h́nh bóng phượng hoàng giữa trời
xanh mây thẳm.
Trải
qua hàng ngh́n năm lưu
truyền
t́nh sử
đó, cuộc
t́nh Tư
Mă - Văn Quan đă
đi vào văn học
Việt
Nam.
Trong “Bích Câu Kỳ Ngộ” đă đề cập đến con tim của đôi
t́nh nhân Tú Uyên say đắm
Giáng Kiều cho đến khi chiếm đọat
được
trái tim rồi quay lưng
bạc
đăi:
“Cầu hoàng
tay lựa nên vần,
“Tương
Như ḷng ấy, Văn Quân ḷng nào”
Thi hào Nguyễn Du rất
tài t́nh khi nói về tiếng đàn của Thúy Kiều như
lúc gặp Kim Trọng:
“Khúc đâu Tư
Mă phượng
cầu
Nghe ra như
oán, như sầu phải
chăng?”.
T́nh yêu & định mệnh,
hạnh
phúc & khổ đau từ ngh́n xưa
đến nay được
thoáng hiện trong bóng dáng “Phượng Cầu
Hoàng”.
"Phượng
cầu dù tựa nên
cung
Ngón cầm biết gảy được
ḷng hay chăng?"
(Hoa Tiên)
Ca khúc “Tà Áo Văn Quân” của Phạm
Duy Nhượng
vào thời
tiền
chiến
đă nói về h́nh
ảnh Tư
Mă, Văn Quân & Phượng,
Hoàng:
“Tư
Mă người
ơi! đừng đàn bên Văn Quân.
Nâng phím hào hoa kề làn môi giai nhân.
Về nhà bên suối, cung đàn áp má đào.
Mộng chưa
tàn khúc Phượng Cầu lưu
luyến nhau.
Phượng
ơi đàn vắng; t́m chim Hoàng nơi
nao”.
Năm 1964, khúc “Phượng Vũ” với nghệ thuật sáng tác của Nguyễn
Đ́nh Nghĩa dựa vào giàn nhạc Bát
Aâm
ở
cung đ́nh Huế qua tiếng sáo điêu luyện được
tŕnh diễn
ở trong nước và hải ngoại đă làm vang bóng, giới thưởng
thức
say mê, ái mộ. Nghe “Phượng Vũ”,
h́nh dung được
h́nh
ảnh
phượng
hoàng đập cánh, x̣e cánh...lúc rỉa đuôi,
giủ
đuôi, cụp, x̣e, quay, múa... nhặt, khoan
theo từng
vũ điệu.
II
Phụng
Hoàng, Phượng Hoàng là một trong
tứ
linh: Long, Lân, Quy, Phượng. Khi
gọi
“Long Phụng...”, long tượng trưng
cho nam giới, hùng
mạnh,
cứng
cỏi;
phụng
tượng
trưng
cho nữ giới,
thướt
tha, uyển chuyển. Bên cạnh chữ “Song Hỷ”, h́nh
ảnh phượng x̣e, rồng uốn
khúc, cuộn mây được gọi “Long Vân Tế Hội”.
Trên mũ, áo hoàng đế trang trí h́nh rồng; trên
mũ, áo hoàng hậu
trang trí h́nh phụng hoàng. Trên cung điện và
ở
trong nhiều công tŕnh kiến trúc
thơi
xưa đều
được
chạm
trổ,
vẽ
h́nh
ảnh
long, phụng như
biểu tượng
cao quư, uy quyền, mỹ thuật, thanh tao.
Khi chữ
viết
bay bướm,
linh động,
có thần,
đẹp
tuyệt
vời
- điển
h́nh như
chữ Hán -
dùng thành ngữ
"Phụng bay rồng múa" để diễn
tả
nét bút độc đáo của nó.
Trong tứ linh đó, phượng c̣n
đi với
lân, đi vào văn học để biểu lộ sự tương
hợp,
cùng dong dơi quyền quư với nhau:
"Đồng hàng lông phượng gót lân
Ḱa nhà ngũ quế, nọ sân bát đồng"
(Nhị Độ Mai)
Vào triều Nguyễn, h́nh
ảnh rồng danh cho nhà vua; hoàng thái hậu,
hoàng hậu, công chúa với h́nh
chim phụng
hoàng trên áo mũ màu vàng, màu đỏ và cung
tần
được
chia ra làm 3 loại theo thứ bậc
cao thấp,
thêu 5, 3 và 1 con phượng trên mũ. Áo sa sợi tơ
màu đỏ, màu
tía và màu trắng
cũng tùy theo thứ basc cao thấp dệt
h́nh con loan.
Phượng
hoàng là linh vật, phượng là chim trống,
hoàng là chim mái, c̣n gọi
là loan.
Vào thời
Hán Vũ Đế, máu chim loan được dùng
làm keo nối
dây cung, dây đàn, rất chắc, bền. Giao là keo, v́ vậy có câu
"An đắc
giao loan tục đoạn huyền" (Ước ǵ có
keo loan để
nối
giây đàn đứt). Thi hào Nguyễn Du đề
cập
qua ḍng thơ:
"Giữa đường đứt gánh tương
tư,
Giao loan chắp nối, tơ
thừa mặc em"
(Kiều)
H́nh
ảnh
phụng
loan tượng
trưng
cho điều lành,
tốt
đẹp,
bền
vững
bên nhau, v́ vậy, khi chúc mừng cho
đôi uyên
ương được nên
duyên tốt
đẹp,
dùng “Loan Phụng Ḥa Minh” để bầy
tỏ
duyên tơ
thắm thiết
vợ
chồng.
Trong thi ca việt Nam đă đề cập
đến
h́nh
ảnh
giữa
phụng
và loan:
“Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,
Hoa quan giấp giới, hà y rỡ ràng”
(Kiều)
“Nào người phượng chạ loan chung,
Nào người tiếc lục tham hồng là ai”
(Kiều)
Ca dao Việt Nam có
câu:
"Phụng với loan hai đàng phân rẽ
Qua với nàng chẳng lẽ phân nhau".
“Loan ôm lấy phụng, phụng bồng lấy loan”
Mối
t́nh đầy
lăng mạn,
thơ
mộng của
Phan Tất
Chánh & Trần Kiều Liên từ thời Tống Tĩnh Khang
ở Trung
Hoa thời
xa xưa
được viết
qua truyện thơ
nôm “Phan Trần”
đi vào văn học Việt Nam, ghi lại h́nh
ảnh
đôi kẻ
t́nh si lúc hội ngộ:
"Vũ
môn mừng đă đến tuần
Phượng loan rày gặp, phong vân phải t́m”.
(Phan Trần)
Vào tiền bán thế kỷ XX, nhà thơ
Tản
Đà có bài thơ
chúc mừng
tân hôn:
"Mừng ai gối phượng,
chân loan
Khuyên ai gánh lấy giang san nhà chồng
Chúc ai tay bế tay bồng
Con tiên rồi lại cháu Rồng về sau"
Khi mối
t́nh găy đỗ, nhẹ nhàng mượn h́nh bóng “phụng loan
chếch
cánh” cho có vẽ nhẹ nhàng, văn chương.
Khi trai và gái chưa
thành hôn mà sống chung chạ với
nhau, người xưa
đă gọi
"phượng chạ loan chung". Và, bày tỏ t́nh cảnh
vợ
chồng
ngăn cách, vợ một nơi,
chồng
một
ngă: "loan phiêu phụng bạc"
Loan giá: xe của vua đi. Loan dư:
kiệu
của
vua đi. Loan tường phụng chủ: chữ viết sinh động như
loan liệng
phụng
bay. Phượng cái: lọng của
vua có thêu h́nh chim phượng. Phượng
chiếu:
tờ
chiếu
của
vua có vẽ h́nh chim phượng. Phượng
kỳ: nghi trượng của vua. . .
Theo GS Thái Văn Kiểm, nhà
điểu
học
Nhật
Bản
Hachisuka quả quyết chim trĩ cũng giống như
chim phụng
hoàng. Phụng
hoàng co đuôi dài chấm nhăn khá nhiều, vừa
giống
chim trĩ, vừa giống chim công, Tay gọi là
Faisan ocelle , Faisan argus; tên La tinh là Argusianus
Argus…... Chim loan (chim mái) có lông ngũ sắc
nhưng
sắc xanh
óng ánh nhiều
hơn,
c̣n chim phụng cũng
lông ngũ sắc
nhưng
màu đỏ tía nhiều
hơn.
Phượng
hoàng luôn luôn sát cánh bên nhau vượt đại
dương,
núi rừng, thảo
nguyên bát ngát, bay tận trời xanh, cỡi mây, lướt
gió.
Trong khoảng bốn trăm loài chim, phụng hoàng
được
xem như
chúa tể. Ăn quả
trúc, uống nước suối trong. Vào thời xa xưa,
phụng hoàng
vượt
núi rừng,
biển
cả
về
núi Côn Luân, uống nước suối Để Trụ, tắm nước Nhược Thủy, phơi
nắng trên
đỉnh
Đơn
Tuyệt. Khi
bay có nhiều
giống
chim khác bay theo tháp tùng. Khi hót, hàng trăm loài chim
cùng cất
theo, ḥa thành bản đại hợp tấu với muôn ngh́n âm điệu. Phụng
hoàng thân cao, dáng vẻ thanh nhă, mầu sắc
lộng
lẫy.
Mỏ
như
mỏ gà trống,
trên mỏ
có mồng,
cổ
như
cổ rắn,
lưng
tựa rùa,
lông mầu
ngũ sắc,
đuôi sặc
sở
như
đuôi
công, xếp
lại
như
đuôi cá.
Ngày xưa, vua Phục Hy đời
thượng
cổ,
thấy
chim Phụng Hoàng đậu trên
cây ngô đồng,
nhà vua cho hạ cây ngô đồng, cưa
làm 3 khúc. Nhà vua cho người
thử,
khúc ngọn phát ra tiếng
trong, khúc gốc
tiếng
đục,
khúc giữa phát ra chuổi âm điệu
từ
trong đến đục. Nhà vua cho ngâm khúc giữa vào
ḍng nước
chảy
72 ngày rồi giao cho Lưu
Tử
Kỳ đẽo
thành cây đàn, gồm 13 phím, 5 giây (Cung, Thương,
Giốc,
Chủy
Vũ), đặt
tên là Diêu Cầm. Đời Văn Vương,
Vơ Vương thêm hai giây (Văn, Vơ). Một
loại
cây thông thường được Phụng Hoàng đậu đă trở
thành danh mộc, khai sinh ra loại đàn.
Trong thơ
cổ có câu:
“Phục
Hy chế
tác lễ
nghi”, cây Diêu Cầm là h́nh
ảnh đầu
tiên cho lễ nhạc.
Vào thời
Xuân Thu, Kính Trọng công thành danh toại nhưng
quá thận trọng
về
đường
t́nh duyên và khi bói được quẻ "Phụng
Hoàng" mới
chọn
người
phối
ngẫu.
H́nh
ảnh
phượng
hoàng trở thành điển tích
,như
huyền thoại
và được
dè cập
trong văn học cho lương
duyên cuộc
t́nh:
"Phượng
bay bốn bể cầu hoàng
Giai nhân chẳng
ở đông
sàng th́ đâu"
(Tây Sương
Kư)
"Nước
trong xanh lơ
lửng con cá vàng
Cây ngô cành bích con chim phượng
hoàng nó đậu cao.
Anh tiếc cho em phận
gái má đào
Tham đồng bạc trắng mới gán
ḿnh vào lấy chú Tây đen"
(Tản
Đà)
“Thơ
mừng kính có lời
trân trọng,
Gia thất ḥa vui tiếng
phượng hoàng”
(Đông Hồ)
“Phượng
cầu dù lựa nên
cung
Ngọn cầm biết gẩy được ḷng hay chăng”
(Nguyễn Thiện - danh
sĩ đời Lê - cháu Nguyễn
Du)
“Phượng bay bốn bể cầu hoàng
Giai nhân chẳng
ở đông trường th́ đâu”
(Tây Sương)
"Công danh chờ thử xuân sang
Thế nào rồi sẽ phượng hoàng rủ nhau"
(Phan Trần)
Ca dao Việt Nam đă
đề
cập
đến
duyên nợ trời cho:
“Thiên duyên kỳ ngộ gặp chàng
Khác ǵ như
thể phượng,
hoàng gặp nhau”.
Tuy phượng hoàng là h́nh tượng rất
phổ
biến
từ
chốn
cung đ́nh đến sinh hoạt văn
hóa nhưng
h́nh
ảnh
đó được
phát họa
trong óc tưởng
tượng
về
linh vật
từ
ngàn xưa
cho tới nay với
bao truyền thuyết.
Đời
nhà Đường,
Vơ Tắc
Thiên phát họa lại đồ án từ thời Thái Tông và Cao Tổ xây cất
điện
Minh Đường.
Vơ Tắc
Thiên giao phó cho t́nh lang Tiết Hoài
Nghĩa sai nho sĩ phái Bắc
Môn vẽ
kiểu,
dùng địa
điểm
bên trong Nam Môn của hoàng cung
ở Lạc
Dương.
Điện Minh Đường
hoàn thành năm 688, cao 100 mét, gồm 3 tầng,
rộng
100 mét vuông. Trên nóc điện với
h́nh
ảnh
con phượng
hoàng làm bằng sắt mạ vàng, cao 3 mét, biểu tượng
của
Vơ hậu.
Không đứng vững được bao lâu v́ bị điện
Minh Đường
bị
đốt
cháy, không c̣n di tích bóng phượng hoàng.
Vào thời
Tây Sơn
(1788-1802) tháng 10 năm 1788 Nguyễn
Huệ
ban chiếu chọn Vinh xây dựng kinh
đô. Phụng
Hoàng Trung Đô, giữa nứi Dũng Quyết và núi
Kỳ Lân, dưới
sự
chỉ
huy của
La Sơn
Phu Tử và Trấn
thủ
Nghệ
An Nguyễn
Thận,
đó là kinh đô thứ năm sau kinh đô Văn Lang
ở Việt
Tŕ, kinh đô Cổ Loa (Hà Nội), kinh
đô Hoa Lư
ở Ninh
B́nh, kinh đô Thăng Long.
Thi hào Nguyễn Du, trên đường lai
kinh vào năm 1804, sáng tác bài thơ
"Phượng
Hoàng Thượng Lộ Tảo Hành" mô tả cảnh
tượng
xa xăm, đêm xuống sắc trời mờ mờ, nghe tiếng vượn
hú, thấy
dâu chân cọp, ngủ đưởng gặp tiều phu, thương
nhau tuy không cùng cảnh ngộ: "Chinh phu hoài văng lộ, Dạ
sắc
thượng
mông mông, Nguyệt lạc viên thanh ngoại, Nhân
hành hổ
tích trung..."
Có vài địa danh mang tên phụng hoàng
như
đảo Phụng
Hoàng dùng làm nơi
phát tuyến
đài Tự
Do thời
Việt
Nam Cộng
Ḥa, núi Phượng Hoàng
ở Pleiku
nhưng
nơi nầy
không có bóng dáng loài chim trĩ, phượng
hoàng.
Trong tem thơ
Việt Nam Cộng
Ḥa có tem thư
với đề
tài "Chim Phượng Hoàng Đang Bay" do họa sĩ
Nguyễn
Thanh Thu vẽ, ngày phát hành 7 tháng 9 năm 1955, màu tím, đỏ
giá 4$00.
Âm nhạc
Trung Hoa h́nh thành từ Linh Luân, Hậu Quỳ; đời
Ngũ Đế,
Tam Vương,
âm nhạc
trở
thành lễ nghi trong cung đ́nh; đời Xuân
Thu nổi
danh với
Sư
Khoáng tinh thông âm pháp đưa âm nhạc đến
mức
vi diệu,
cao siêu. Và, Tư
Mă Tương Như đời
Hán với
khúc “Phượng Cầu Hoàng” trở thành bất
tử,
lưu
truyền hậu
thế.
Tố
Như
tiên sinh trong
thi phẩm
“Kiều”
đă đề
cập
về
âm nhạc
Trung Hoa cũng như
Đông phương:
“Cung thương
lầu bậc ngũ âm...
Lọt tai nghe suốt
năm cung”.
Ngôn ngữ, âm giai của âm nhạc
Đông phương
chỉ
có ngũ âm - năm bậc, năm cung: Cung, Thương,
Dốc,
Thủy,
Vũ (Cống,
Xừ,
Xang, Xế, Líu) nhưng
cũng được
biến
hóa muôn sắc, muôn âm, rất phong
phú và huyền
diệu.
Theo Lê Qúy Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ
: "Lấy hoàng chung làm cung, lấy lâm
chung làm chủy,
lấy
thái tấu
làm thương,
nam lă làm vũ, cô tiến làm giốc,
ứng
chung làm biến cung, sanh tan làm biến chủy.
Đấy
là thất
luật
để
làm đờn
cho thanh âm điều ḥa . . . ".
Nhạc
khí Đông phương
gồm
đàn, sáo, nhị... Riêng sáo, có đến 6 loại,
tên gọi
khác nhau tùy theo thổi ngang, thổi dọc,
không và có lưỡi gà, 2 lỗ, 6 lỗ,
7 lỗ,
chín lỗ...:
Tiêu, Địch, Hoàng, Quản, Tŕ,
Huân.
Năm 1964, khúc “Phượng Vũ” với nghệ thuật sáng tác của Nguyễn
Đ́nh Nghĩa dựa vào giàn nhạc Bát Âm
ở
cung đ́nh Huế qua tiếng sáo điêu luyện được
tŕnh diễn
ở trong nước và hải ngoại đă làm vang bóng, giới thưởng
thức
say mê, ái mộ. Nghe “Phượng Vũ”,
h́nh dung được
h́nh
ảnh
phượng
hoàng đập cánh, x̣e cánh...lúc rỉa đuôi,
giủ
đuôi, cụp, x̣e, quay, múa... nhặt, khoan
theo từng
vũ điệu.
Qua năm tháng, qua bao biến thiên,
vật
đổi
sao dời,
khúc “Phượng Cầu Hoàng” dù đă thất truyền
nhưng
t́nh sử... vẫn
vượt
thời
gian, không gian với dấu
ấn cuộc t́nh.
|