|
Thạch
Lam
Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh sinh năm 1910 tại Hà
Nội , là người con thứ sáu trong gia đ́nh Nguyễn Tường. Đến năm 14 tuổi
mới đậu bằng cao đẳng tiểu học, ông phải khai tăng tuổi để thi lấy bằng
Thành Chung rồi đổi tên là Nguyễn Tường Lân. Ông vào học Albert Sarraut,
đậu tú tài phần thứ nhất rồi thôi học ra làm báo Phong Hoá, Ngày Nay với
các anh ông là Nhất Linh, Hoàng Đạo trong Tự Lực Văn Đoàn
năm 1932. Ông bị bệnh
lao mất vào tháng 6 năm 1942 trong cảnh nghèo nàn tại một ngôi nhà tranh
làng Yên Phụ cạnh Hồ Tây.
V́ mất sớm nên sự nghiệp văn chương của Thạch Lam về số lượng rất
khiêm tốn, tuy nhiên v́ giá trị nghệ thuật của nó rất cao nên ông vẫn
được coi là một nhà văn lớn trong nền văn chương Việt Nam cận đại.
Các
tác phẩm gồm:
1- Ngày Mới, tiểu thuyết 1937
2- Gió Đầu Mùa, tập truyện ngắn 1937.
3- Nắng Trong Vườn, tập truyện ngắn 1938.
4- Theo Gịng, nghị luận văn chương, 1941.
5- Sợi Tóc, tập truyện ngắn, 1942.
6- Hà Nội 36 Phố Phường, tùy bút, 1943.
Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xă hội thường mô tả đời
sống của những người nghèo nàn cùng khổ bằng những nét chân thực đầy
t́nh thương yêu nhân loại, ông thiên về bi kịch hơn Khái Hưng Nhất Linh
trong Tự Lực văn đoàn, tác phẩm của ông có giá trị cao về nhân bản được
viết ra như một chút t́nh thương dành cho những kẻ lầm than cơ cực. Ông
khâm phục và chịu ảnh hưởng Dostoievsky rất nhiều trong kỹ thuật mô tả
tâm lư nhân vật, chú trọng về mặt hướng nội. Thạch lam cũng là nhà văn
thuộc trường phái lăng mạn như các bậc đàn anh trong văn đoàn tuy nhiên
các truyện t́nh của ông khác với các nhà văn kia ở tính chân thật, ngây
thơ, thi vị.
Ông Phạm Thế Ngũ nhận xét về Thạch Lam như sau.
“Trong văn học mới nước ta các nhà phê b́nh thường đồng ư là Thạch
Lam- cây bút Tự Lực đă đưa thể đoản thiên đến độ nghệ thuật cao hơn cả.
Trong ba tập đoản thiên của ông mà ta xét trên ta đều thấy nhiều đặc sắc
nghệ thuật”
Hoặc.
“Nhưng dù sao không ai phủ nhận được ông đă đưa đoản thiên Việt Nam
đến một tŕnh độ nghệ thuật rất cao. Tác giả Nhà văn hiện đại cũng công
nhận những truyện trong Sợi Tóc là những đoản thiên hay nhất trong văn
chương Việt Nam”
Thật vậy, Thạch Lam là người chuyên về trước tác truyện ngắn và đă
thành công nhiều trong thể loại văn chương này
Sợi Tóc là tập truyện ngắn giá trị và nổi tiếng của Thạch Lam do
nhà xuất bản Đời Nay, Hà Nội ấn hành năm 1942, toàn bộ gồm năm truyện
vỏn vẹn chừng năm sáu chục trang giấy nhưng nội dung thật là súc tích và
vô cùng hiện thực, những đề tài khác biệt nhau như đóa hoa ngũ sắc rực
rỡ cùng thể hiện một nghệ thuật tuyệt vời. Chúng tôi xin phân ra làm ba
đề tài chính : Tâm lư: Sợi Tóc; Bi kịch: Cô Hàng Xén, Tối
Ba Mươi; T́nh cảm : Dưới Bóng Hoàng Lan, T́nh Xưa và đề cập giới
hạn bốn truyện chọn lọc : Sợi Tóc, Cô Hàng Xén, Tối Ba Mươi và Dưới Bóng
Hoàng Lan.
Sợi Tóc
Một truyện ngắn chừng mười trang giấy thể hiện cái thiên tài hiếm
có của Thạch Lam trong kỹ thuật mô tả tâm lư con người, có dư luận phê
b́nh cho rằng Sợi Tóc có thể coi như ngang hàng với các đoản thiên giá
trị trên văn đàn thế giới. Đó là truyện một anh chàng bị cám dỗ v́ số
tiền lớn của người anh họ, định lấy cắp nhưng rồi lưỡng lự đổi ư.
Thành có người anh họ rất giầu nhưng ngốc nghếch, Bân rất phục
Thành là người sành đời, thạo ăn chơi, mỗi khi đi mua đồ đều hỏi Thành.
Một hôm Bân rủ Thành đi mua đồng hồ, lúc hắn trả tiền Thành nh́n cái ví
phồng và biết là nhiều tiền lắm, chàng thấy rơ cả những giấy trăm c̣n
mới tinh, mua xong Bân rủ Thành đi ăn tiệm.
Bân cùng một cô nhân t́nh vào buồng nằm, hắn đem theo cả cái áo tây
có ví tiền. Khi ấy Thành chán nản muốn bỏ về, chàng với lấy cái áo tây
trên mắc th́ ra là áo của Bân có ví tiền dầy cộm, Bân đă lấy nhầm áo của
chàng vào buồng. Bân và các em đều muốn giữ Thành ở lại cho vui.
Khi ấy trong trí Thành rối bời cả lên v́ nghĩ đến cái ví tiền ,
chàng định mở ví lấy vài trăm rồi đổi lấy áo của Bân vắt ở đầu giường
hắn . . Thành hút một điếu thuốc phiện rồi thờ thẫn nghĩ ngợi, chàng cho
rằng Bân sẽ không biết chàng lấy mà nghi cho nhân t́nh của hắn.
Nhưng khi cho tay vào ví, Thành lại đắn đo suy nghĩ đờ đẫn cả người,
tự nhiên chàng trả áo cho Bân và bảo hắn đếm tiền chi kỹ. Cuối cùng sau
một cuộc giằng co, sự cám dỗ tội lỗi đă bị lương tâm đè nén, ranh giới
hai bên chỉ là một sợi tóc.
Đây là một đoản thiên tâm lư sâu sắc nhất của Thạch Lam, của nền
văn chương Việt Nam, xứng đáng được xếp ngang hàng với những truyện hay
trên văn đàn thế giới. Ng̣i bút thần sầu củaThạch Lam đă phô diễn được
quá đầy đủ về bản chất con người, về cái biên giới mong manh như sợi tóc
giữa thiện và ác, giữa lương tâm và tội lỗi. Cám dỗ bắt đầu xuất hiện
khi Thành thấy ví của Bân lúc hắn trả tiền ngoái phố:
“Thoáng nh́n qua, tôi cũng biết ví nhiều tiền lắm: ngoái số tiền
bạc lẻ hắn mang ra trả, tôi c̣n thấy gấp ở ngăn trên đến năm sáu cái
giấy bạc một trăm nữa. Những giấy bạc mới màu c̣n tươi nguyên”
Và khi Thành lấy áo định ra về, cám dỗ lại tiến thêm một bước nữa:
“Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên
có cái ǵ chuyển mạnh qua tim tôi: tay tôi yên hẳn lại; tôi vừa mới nhận
ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là cái áo của tôi. Th́ ra lúc
mang áo vào giường nằm, Bân đă mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc một
thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lẫn lắm. Tôi ghé nh́n vào trong áo
thấy cái ví tiền ở túi tḥ ra ngoài một tí. Cái ví tiền . . . mấy tờ
giấy bạc”
Bằng lối diễn tả vô cùng khéo léo, Thạch Lam cho chúng ta thấy rơ
những bước chân xâm lấn ghê gớm của cám dỗ:
“Những lời đối đáp ấy cứ tự nhiên buột miệng ra, tôi không để ư đến.
Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví hiện ra rất rơ
rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ - tại sao lại hai? Tôi không biết - tôi cứ
việc điềm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ. Rồi chọn lúc mọi người
vô ư . . tôi đổi lấy áo của tôi . . thế là xong và gọn . . . .dễ dàng
quá, mà không c̣n sợ cái ǵ cả”
Bằng một nghệ thuật vô cùng hiện thực ông cũng cho ta thấy sự rối
bời trong tâm trạng con người v́ sự giằng co tranh chấp giữa lương tâm
và tội lỗi.
“Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi. Tôi giả
vờ cười không đáp, rồi soay người nằm ngửa, nh́n lên trần nhà.Trong
người bứt rứt không yên”
Hoặc như.
“Tâm hồn tôi lúc bấy giờ thế nào tôi không biết rơ. Tôi đứng lên,
ngồi xuống như một cái máy. Tôi chỉ thấy băn khoăn bứt rứt . . và thời
gian qua . . tôi cảm thấy đi qua tâm hồn tôi từ bên này sang bên kia . .
như thế không biết bao nhiêu lâu . .”
Và sau khi đă trấn áp được cám dỗ tội lỗi, Thành lại ngẩn ngơ một
chút tiếc thương, thiện ác vẫn c̣n vẩn vơ trong trí.
“- Áo anh này , đây là áo của tôi . . . . .
. . . Anh đếm lại tiền đi và để cẩn thận vào trong ấy . . .
Tôi bước một bước lùi ra cửa. Thế là hết bây giờ không sao đụng đến
cái ví được nữa. Tôi bần thần ngẩn ngơ”
Thậm chí đến lúc Thành lên xe về nhà, tâm trí rối mù, chàng ngẩn
ngơ như người mất hồn, vẫn c̣n chút tiếc rẻ ngấm ngầm , dù chàng đă tỉnh
táo rồi, cám dỗ vẫn c̣n vương vấn trong ḷng.
“Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giăn ra, như một
cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái
thú khoái lạc kỳ dị khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là
cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đă đè nén được sự
cám dỗ. Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng
cố ư không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một
vẻ rờn rợn và sâu sắc”
Người đọc tưởng như ḿnh đang chơi vơi giữa thực và mộng, giữa cái
thú của cám dỗ và khoái lạc của lương tâm, lư trí đă trấn áp được cám
dỗ. Song vẫn chưa hết, đến khi Thành đă tỉnh táo, đă lên xe về nhà mà
cám dỗ vẫn c̣n vương vấn như một sự tiếc nhớ vu vơ. Thạch Lam đă dẫn
chúng ta đi sâu vào tận đáy tâm hồn con người để ta chứng kiến được cái
biên giới mong manh giữa thiện, ác, giữa ăn cắp hay không ăn cắp, cái
địa giới chỉ mỏng manh như một sợi tóc.
Cô Hàng Xén
Đây là một truyện ngắn nổi tiếng của Thạch Lam đă được nhiều người
hâm mộ, ca ngợi tấm ḷng hy sinh của người phụ nữ Việt Nam và cũng là
một bi kịch cuộc đời không lối thoát.
Tâm gánh hàng từ chợ băng qua cánh đồng về làng, băng qua sân đ́nh
rồi về đến nhà, chia bánh kẹo cho các em. Cô được mẹ già và các em âu
yếm săn sóc. Từ ngày gia đ́nh sa sút, ông Tú mắt kém thôi dạy học, cô
buôn bán tần tảo để nuôi mẹ và các em.
Tâm là người con gái xinh đẹp nổi tiếng cả một vùng, thời gia đ́nh
c̣n sung túc cô đă được cắp sách đi học, nhưng nay rời bỏ quyển sách để
bước chân vào cuộc đời tần tảo hy sinh, không bao giờ nghĩ đến cuộc đời
riêng của ḿnh.
Những ngày phiên chợ, cậu giáo Bài trường làng thường hay lại mua
hàng và để ư đến Tâm, khi lên giường ngủ cô cũng có lúc nhớ tới cậu giáo.
Vụ gặt xong, cậu giáo nhờ người mối lái đến hỏi Tâm. Bà Tú gọi Tâm vào
buồng nói chuyện ấy, cô muốn ở nhà buôn bán trông nom gia đ́nh, thương
con bà mẹ bảo cô phải đi lấy chồng.
Đám cưới cử hành trước tết, ngày về nhà chồng Tâm từ biệt các em.
Về nhà chồng mấy hôm nàng lại sốc vác gánh hàng ra chợ. Nhà chồng nàng
cũng nghèo, cậu giáo lương dăm bẩy đồng, nàng vừa phải gánh vác giang
sơn nhà chồng lại lo cho các em ăn học. Em Lân lên học trường tỉnh, tốn
kém hơn. Bà Tú nhắn người bảo nàng gửi tiền thêm, nàng lo quá: mẹ chồng,
cậu giáo thường đay nghiến v́ nàng không c̣n tiền đưa.
Hai năm sau Tâm đẻ con trai, nàng đă già đi nhiều, không c̣n đẹp
như xưa. Tâm về nhà thăm cụ tú, các em. Lân xin một chục bạc, Tâm hốt
hoảng v́ chồng đă thôi dạy, nàng phải lo gánh vác bên nhà chồng. Lân
giận dỗi, nàng đành phải lấy tiền đưa cho em rồi lo âu không biết lấy ǵ
bù vào chỗ ấy. Cuộc đời nàng đen tối, khó nhọc như không bao giờ dứt.
Khác với Khái Hưng, Nhất Linh thường phơi bầy những sai lầm của nền
luân lư cổ, ở đây Thạch Lam có khuynh hướng ca ngợi gia đ́nh nền nếp nho
phong, những cái hay cái đẹp c̣n rơi rớt lại của một nền văn minh tinh
thần đă vang bóng một thời.
H́nh ảnh cô Tâm gánh hàng xén ra chợ nuôi mẹ, nuôi các em ăn học để
sau này đỗ đạt đi làm trên tỉnh giúp thầy mẹ già, không nghĩ đến cuộc
đời riêng của ḿnh tiêu biểu cho những cái đẹp tuyệt vời của nền nếp xă
hội thời ấy.
“Tâm thấy vững vàng ở giá trị và ḷng cao quí của ḿnh. Nàng đă đảm
đang nuôi cả một nhà”
Nàng cũng là thể hiện của sự chịu khó nhọc nhằn của những người phụ
nữ Việt Nam đảm đang.
“Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đă mở cổng gánh hàng lên
chợ. Sương trắng c̣n đầy ở các ngơ trong làng . . .. . . tất cả cuộc đời
nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có
phải đâu chỉ một ḿnh cô. Trong lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng
như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi
con, nuôi các em”
Tâm chỉ nghĩ đến sự hy sinh cho cha mẹ, cho các em không nỡ bỏ nhà
đi lấy chồng, bà Tú thương con buộc nàng phải xuất giá. Cô hàng xén xinh
đẹp nổi tiếng cả một vùng ngày càng dấn thân vào cuộc đời khó nhọc, một
tấn bi kịch không lối thoát. Về nhà chồng được mấy ngày nàng phải quẩy
gánh hàng đi bán ngay, cậu giáo Bài lương chẳng bao nhiêu, Tâm lại phải
è cổ gánh vác giang sơn nhà chồng:
“Bây giờ gánh hàng đă trở nên quá nặng trên đôi vai nhỏ bé.
Chiếc đ̣n càng cong xuống và rền rĩ. Ngoài giang sơn nhà chồng nàng phải
gánh vác, Tâm lại lo sao kiếm được đủ tiền để gửi thêm cho các em ăn
học. Trong sương muối sớm, xót và giá lạnh, nàng đă phải bước ra ngơ và
đi chợ rồi . . . . . Đời nàng lại đi như trước, chẳng khác ǵ. Những
ngày khó nhọc và cố sức lại kế tiếp nhau”
Thật là bất ngờ, một cô gái nết na xinh đẹp, nổi tiếng cả một vùng
ngày càng dấn thân vào cuộc đời gian khổ. Đó là thân phận một người phụ
nữ một cổ hai cḥng, cuộc đời nàng chỉ toàn là hy sinh gánh vác: Mọi chi
tiêu trong gia đ́nh chỉ trông vào nàng: Bà Tú nhắn người bảo Tâm gửi
thêm cho em, nàng phải đưa dấu v́ mẹ chồng vàcậu giáo Bài đă bắt đầu
nghi ngờ và đay nghiến nàng.
Nàng đă già đi, nhan sắc phai tàn, đâu c̣n là cô hàng xén xinh đẹp
nổi tiếng cả một vùng, tre già măng mọc, nàng nay đă hết thời, đă có
những cô gái khác mới lớn tươi tắn và rưc rỡ . . Tác giả cũng ngụ ư về
số mệnh con người.
“Tâm lại nghĩ đến ngày trước kia, h́nh như đă lâu lắm, nàng c̣n là
cô hàng xén má hồng, môi đỏ e lệ cúi mặt dưới cái nh́n âu yếm của cậu
giáo Bài nho nhă và đứng đắn trong tấm áo lương. Thời ấy bây giờ đâu?
Chị Liên may mắn đă lấy được chồng giầu, lên buôn bán trên tỉnh . Chị ấy
vẫn trẻ đẹp như xưa. Tâm khẽ thở dài: bây giờ các chị em bạn cũ không
c̣n ai ở lại để cùng chia sẻ những nỗi khó nhọc với nàng”
Tác phẩm như để ca ngợi tấm ḷng hy sinh cao cả của người phụ nữ
Việt Nam nhưng chủ đề chính là bi kịch về thân phận con người, về những
cuộc đời gian khổ đáng thương điển h́nh là cô hàng xén .
“Cái ṿng đen của rặng tre làng Bằng bỗng vụt hiện ra trước mắt,
tối tăm và dầy đặc. Tâm buồn rầu nh́n thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô
hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già, toàn khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt
ngày kia như tấm vải thô sơ. Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngơ tối”
Cô Hàng Xén, một trong những đoản thiên hay nhất của nền văn chương
Việt Nam đă cho ta thấy giá trị hiện thực tuyệt vời trong nghệ thuật tả
chân của Thạch Lam. Một tác phẩm văn chương nhỏ bé đă làm sống lại cả
một xă hội c̣n đượm những giá trị hy sinh cao đẹp, di sản của một nền
văn minh tinh thần nay c̣n đâu? chúng ta không khỏi bùi ngùi cho thân
phận bi đát của con người và cảm thấy nuối tiếc cho những giá trị cao cả
tuyệt vời của nền văn minh tinh thần ấy nay đă bị chôn vùi dưới lớp cát
bụi của thời gian.
Tối Ba Mươi
Một truyện ngắn đặc sắc, cảm động đầy nước mắt về thân phận của
những người cùng mạt tận đáy xă hội.
Liên và Huệ, hai chị em họ, bỏ nhà đă bẩy tám năm nay sống đời
giang hồ trụy lạc. Liên mua đồ cúng giao thừa về khi Hậu c̣n đang ngủ.
Họ dở các gói thức ăn ra, nào lạp xưởng, bánh chưng, ḍ lụa.
Huệ rớm nước mắt nhớ tới thời thơ ấu, nàng mặc áo mới ngày mồng một
tết . . nghĩ đến đấy tâm hồn nàng bỗng u ám nặng trĩu.
Họ bầy đồ cúng lên bàn: đĩa cam quít, bánh chưng, lạp xưởng rồi cắm
hương lên tường cúng. Người bồi nhà chứa chào các cô về ăn tết, chỉ c̣n
lại hai chị em trong căn nhà hoang vắng. Mùi hương tỏa ra khiến họ nhớ
đến những ngày cúng giỗ ở nhà xa xưa.
Liên đứng trước bàn thờ một lúc rồi khóc nấc lên. Hai chị em tủi
thân ôm nhau khóc trong tiếng pháo giao thừa nổ vang.
Đây là tấn bi kịch cuộc đời tội lỗi đáng thương của hai cô gái như
đă bị xă hội bỏ quên trong khi mọi người đang tưng bừng đón giao thừa,
đón những ngày thiêng liêng, vui tuơi nhất của một năm.
“Nàng nh́n quanh căn pḥng bẩn thỉu. Dưới ánh ngọn đèn mờ, lỏng
chỏng các đồ đạc quen thuộc; cái giường Hồng Kông cũ đồng han và rỉ sạm,
cái bàn ghỗ ẩm ướt ở góc tường, hai cái ghế long chân. Liên nghĩ đến sự
trơ trọi của đời ḿnh. Tết đến nơi rồi. Tết đến thăm nàng ở đây, trong
căn buồng nhà săm này cũng như đến những nơi thơm tho đầm ấm’’
Hai chị em họ xa nhà từ bao lâu nay; một người mẹ chết, cha lấy vợ
khác không biết ở đâu, người kia c̣n cha mẹ nhưng không dám về, họ cô
đơn trơ trọi đón xuân trong căn pḥng lạnh lẽo này và trạnh ḷng nghĩ
đến thân phận hẩm hiu của ḿnh.
“Cái vắng lạnh như mênh mông ra tận đâu đâu, ở khắp cả các phố Hà
Nội đêm nay, Huệ tưởng đến những căn nhà ấm cúng và sáng đèn, then cửa
cài chặt, mọi người trong nhà đang tấp nập sửa soạn đón năm mới trong sự
thân mật của gia đ́nh. Chỉ có hai chị em nàng xa cửa xa nhà”
Ở Thạch Lam ta thấy một sự hiện thực chua chát và tàn nhẫn, thật
không c̣n ǵ cay đắng hơn.
“- Có gạo đây. Nhưng đổ vào cái ǵ bây giờ?
Hai chị em nh́n quanh gian buồng nghĩ ngợi, Liên bỗng reo lên.
- Đổ vào cái cốc này. Phải đấy, rất là . . .
Nàng im bặt dừng lại. H́nh ảnh ô uế vừa đến trí nàng. Cái cốc bẩn ở
góc tường, mà cả đến khách làng chơi cũng không thèm dùng đến, nàng định
dùng làm bát hương cúng tổ tiên”
Sống trong một vũng bùn nhơ bẩn, họ tiếc thương quăng đời trong
sạch đă mất đi mà không sao lấy lại được, tâm lư chung những kẻ đă mất
quá khứ tươi đẹp của ḿnh.
“Huệ nhắm mắt lại. V́ trông mưa bụi bay hay v́ nàng khóc thật? H́nh
như có chút nước mắt vừa rớm ở mi nàng. Huệ chớp khẽ rồi nhớ đến cuộc
đời ḿnh, lúc trẻ thơ, lúc c̣n con gái ở nhà quê, một buổi sáng mồng một
tết - Nàng không nhớ rơ năm nào, nhưng đă lâu lắm rồi th́ phải - nàng
mặc áo mới đứng trên thềm nh́n mấy bông hoa đào nở ở trước vườn”
Hoặc như .
“Khói hương lên thẳng rồi tỏa ra mùi thơm ngát đem lại cho hai nàng
kỷ niệm những ngày cúng giỗ ở nhà, khi hai chị em c̣n là những cô gái
trong sạch và ngây thơ”
Hai con chim lạc loài trơ trọi, lạc lơng giữa đêm giao thừa tưng
bừng rộn ră khiến ta tưởng như họ là nạn nhân của cuộc đời, của xă hội
và thấy xót xa cho cái thân phận cô đơn lạnh lẽo ấy đă bị đời khinh thị
rẻ rúng.
“Nàng bỗng nấc lên rung động cả hai vai, rồi gục xuống ghế, tay ấp
mặt. Những giọt nước mắt nóng chảy tràn mí mắt nàng không giữ được; Liên
cảm thấy một nỗi tủi cực mênh mông tràn ngập cả người, một nỗi thương
tiếc vô hạn; tất cả thân thế nàng lướt qua trước mắt với những ước mong
tuổi trẻ, những thất vọng chán chường.
Huệ nh́n Liên rồi nhẹ nhàng đến gần, buồn rầu vỗ vai bạn:
- Liên khóc làm ǵ nữa buồn lắm.
Tiếng nàng cũng cảm động nghẹn ngào. Dưới bàn tay thân mật của bạn,
Liên càng nức nở. Hai chị em giờ này cảm thấy trơ trọi quá. Liên ngửng
mặt lên nh́n Huệ, cố gượng một nụ cười héo hắt:
- Chị cũng khóc đấy ư?
Huệ gục xuống vai bạn không trả lời. Nước mắt cũng ứ lên rồi lặng
lẽ trào ra má. Nàng quàng tay ôm hết sức chặt lấy Liên”
Tấn bi kịch đầy nước mắt cuộc đời hai người con gái đáng thương lỡ
sa chân xuống hố sâu tội lỗi, ngụp lặn trong bể khổ mênh mông, một tác
phẩm tuy ngắn ngủi nhưng cũng chan chứa t́nh thương yêu đồng loại.
Dưới Bóng Hoàng Lan
Thanh nghỉ làm về quê thăm bà, bà cụ già tóc bạc phơ chống gậy
mừng rỡ lại đón cháu, chàng rửa mặt. Thanh vắng nhà đă gần hai năm, cảnh
vẫn y như cũ, bà chàng vẫn tóc bạc phơ, hiền từ. Căn nhà, thửa vườn là
nơi mát mẻ hiền lành, bà vẫn đợi cháu trong t́nh thương tŕu mến.
Chàng nằm nghỉ trên giường nh́n ra ngoài khung cửa sổ thấy cây
hoàng lan cao vút, mùi hương thơm thoang thoảng đưa vào. Chàng cảm động
v́ bà yêu cháu quá.
Nga, cô gái hàng xóm thấy chàng về sang chơi, bà chàng mời cô ăn
cơm. Cơm nước xong Thanh dắt nàng đi thăm vườn, chàng thấy tóc nàng thơm
như hoa hoàng lan . Thanh và Nga vít cành hái hoa.
Hôm sau Thanh lên tỉnh, chàng gửi lời chào Nga và biết rằng nàng
vẫn nhớ mong chàng như trước.
Đây là một áng văn tao nhă tuyệt vời chưa từng thấy trong nền văn
chương Việt Nam, một thế giới vô cùng thi vị thanh tao đầy những hương
thơm của hoa hoàng lan, thiên lư.
Một truyện t́nh cảm thật đơn sơ nhưng đậm đà, một t́nh cảm khác lạ,
t́nh bà cháu dịu dàng tŕu mến .
“Thanh bước xuống dưới giàn thiên lư. Có tiếng người đi, rồi bà
chàng, mái tóc bạc phơ, chống gậy trúc ở ngoài vườn vào. Thanh cảm động
và mừng rỡ chạy lại gần.
- Cháu đă về đấy ư?
Bà cụ thôi nhai trầu, đôi mắt hiền từ dưới làn tóc trắng đưa lên
nh́n cháu, âu yếm và mến thương.
- Đi vào trong nhà không nắng cháu.
Thanh đi bên bà, người thẳng, mạnh, cạnh bà cụ chống gậy c̣ng. Tuy
vậy chàng cảm thấy chính bà che chở cho chàng, cũng như những ngày chàng
c̣n nhỏ”
Thanh vắng nhà gần hai năm nay, chàng làm việc trên tỉnh và mong
đến ngày nghỉ để t́m lại t́nh thương tŕu mến của bà già mái tóc bạc phơ:
“Căn nhà với thửa vườn này đối với chàng như một nơi mát mẻ và hiền
lành, ở đấy bà chàng lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để yêu mến chàng”
Hoặc như.
“Nghe tiếng bà đi vào, Thanh vừa nằm yên giả vờ ngủ. Bà lại gần săn
sóc buông màn . . . . Chàng cảm động gần ứa nước mắt. Bà yêu thương cháu
quá, giờ chỉ có ḿnh cháu với ḿnh bà”
Chàng về quê cũng như để t́m lại t́nh cảm ngây thơ, trong trắng với
cô em hàng xóm mà chàng đôi lúc tưởng như em ruột ḿnh.
“Thỉnh thoảng chàng nh́n đôi môi thắm của Nga, hai má hồng và nụ
cười tươi nở, nàng lại nh́n Thanh, một chút thôi, nhưng biết bao âu yếm.
Ngoài vườn, trời vẫn nắng. Giàn thiên lư pha xanh một bên tá áo
trắng của Nga. Những búp hoa lư non và thơm rủ liền trong giàn, lẫn vào
đám lá. Gạch mát và phủ rêu khiến Thanh nhớ lại hai bàn chân xinh xắn
của Nga ngày nào đi trên đó. Hai bàn chân nhỏ, lấm tấm cát, để dấu tự
ngoài ao trở về”
Khác với không khí lăng mạn trong các tác phẩm của Nhất Linh, Khái
Hưng. T́nh yêu của Thạch Lam ở đây thanh cao, chân thực và thơm tho như
mùi hoa hoàng lan thoang thoảng đâu đây, nó vừa là t́nh yêu, t́nh hàng
xóm, t́nh anh em và t́nh người.
“Bữa ăn xong, Thanh với Nga trở lại thân mật như khi c̣n nhỏ. Thanh
dắt nàng đi xem vườn; cây hoàng lan cao vút, cành lá rủ xuống như chào
đón hai người. Có lúc gần nhau, Thanh thấy mái tóc Nga thoang thoảng
hương thơm như có giắt hoàng lan. Nhưng hoa lan chưa rụng, vẫn c̣n tươi
xanh ở trên cành. Nga bảo Thanh.
- Những ngày em đến đây hái hoa, em nhớ anh quá.
Thanh chẳng biết nói ǵ, chàng vít một cành lan xuống giữ ở trong
tay Nga để t́m hoa, rồi nhẹ nhàng buông ra cho cành lại cong lên. Nắng
soi vào hai người, nhưng dưới chân, đất vẫn mát như xưa”
Dưới Bóng Hoàng Lan không phải một mối t́nh lăng mạn tha thiết,
nhưng một t́nh yêu ngây thơ, trong trắng, chất phác, hồn nhiên trong
cảnh thanh cao, thơm ngát của thôn quê khiến ta mơ mơ màng màng như lạc
vào cơi thần tiên.
“Đêm ấy, một bà, một cháu với một cô láng giềng chuyện tṛ dưới
bóng đèn măi tới khuya. Khi trăng lên, qua vườn Thanh tiễn Nga ra đến
cổng, đi qua hai bên bờ lá đă ướt sương. Mùi hoàng lan thoang thoảng bay
trong gió mát. Không lưỡng lự, Thanh cầm lấy tay Nga để yên trong tay
ḿnh. Nga cũng đứng yên lặng. Lúc lâu Nga rút tay khẽ nói .
- Thôi em về!”
Căn nhà miền quê, thơm tho xinh đẹp tràn trề t́nh cảm là nơi Thanh
trở về nghỉ ngơi sau thời gian làm việc để hưởng những ngày tươi đẹp.
Dưới Bóng Hoàng Lan, đoản thiên thanh tao và trang nhă nhất của Tự
lực Văn Đoàn, của nền văn chương Việt Nam.
Tác giả Nhà Văn Hiện Đại đă dành cho tập truyện ngắn Sợi Tóc một
địa vị rất cao trong văn chương Việt Nam, và cho tới nay chúng thấy h́nh
như ít có tác phẩm nào sánh kịp. Các đề tài khác biệt nhau: xă hội, bi
kịch, t́nh cảm y như đóa hoa ngũ sắc rực rỡ đă thể hiện cái thiên tài
hiếm có của Thạch Lam, từ thanh cao cho đến ô trọc đều đă được ông diễn
đạt một cách phong phú, sâu sắc. Nghệ thuật Thạch Lam mang nhiều ư nghĩa
thâm sâu và sáng sủa, có lúc thật dễ thương, ngọt ngào tràn đầy t́nh cảm
dạt dào, có lúc thật phũ phàng tàn nhẫn.
Trích từ
“Sợi Tóc - Những đoản thiên cuối cùng của Thạch
Lam” của Trọng Đạt
http://quocgiahanhchanh.com/
o0o
Hành Tŕnh Cảm
Giác
Nếu Thạch Lam là họạ sĩ,
Nếu Thạch Lam là nhạc sĩ,
Nếu Thạch Lam là nhà thơ,
Thật ra Thạch Lam có thể là cả ba, bởi nhà văn ấy ngắt câu bằng màu,
chấm câu bằng nốt nhạc, chuyển đoạn bằng h́nh ảnh. Thử ngắm và nghe bức
tranh Thạch Lam vẽ Nắng trong vườn, một bức tranh rất tầm thường,
nh́n qua ta có cảm tưởng như ai cũng có thể viết được:
"... tôi thong thả theo con sông Cống, chạy khuất khúc lên giữa các đồi.
Một cái cầu gỗ mong manh bắc qua sông. Hai rặng thông từ trên đỉnh đồi
chạy xuôi xuống tận gần bờ, giữa luồng gió thoảng và cái tiếng ŕ rào
như nhớ nhung của lá thông trái gió nhắc tôi nghĩ đến những cảnh rộng
răi, bao la.
Buổi chiều rất êm ả. Về phía tây, mây trời rực rỡ những màu sáng lạn và
ánh nắng chiều loáng một khúc sông, trông như một giải vàng nổi lên giữa
đồi ruộng đă bắt đầu tím lại. Một đàn chim đi ăn về vút bay qua ngang
đầu, tiếng cánh vỗ rào rào như trận mưa; tôi ngửng lên nh́n theo đến khi
cái vết đen linh động của đàn chim lặn hẳn với chân mây."
(Nắng trong vườn, in lại tại Hoa Kỳ, trang 8)
Ng̣i bút vờn phác một ḍng sông, có cầu gỗ bắc ngang, chấm phá thêm hai
rặng thông từ trên đỉnh đồi chạy xuống, rồi điệu nhạc thầm nổi
lên với âm ch́m của tiếng thông "trái gió", tiếng nắng chiều "loáng"
trên sông, họa cùng âm nổi trong tiếng chim vỗ cánh "rào rào" như
mưa, tiếng chim "lặn" vào chân mây... tất cả nhịp nhàng giao hoà
trong thanh lặng, như thể cây cọ vẽ đến đâu, nhạc đệm len lỏi đến đấy,
nhạc thoát ra từ thanh âm thầm kín của những con sông chạy
khuất khúc, những cây thông chạy từ đỉnh đồi xuống bờ sông,
những lá thông trái gió/ nắng chiều loáng/ đồi ruộng tím lại/
đàn chim vụt bay/ cánh vỗ rào rào như mưa, cho đến lúc vết đen
của đàn chim lặn hẳn... nhạc cũng ch́m vào chân mây.
Vậy mà dường như Thạch Lam không làm văn cũng không tả cảnh, ông chỉ đơn
thuần ghi lại hành tŕnh cảm giác. Đối với ông, những ngơ dẫn con
người ra khỏi trạng thái b́nh thường, tầm thường, để đến với những ǵ
khác thường, có thể thay đổi toàn diện mạch sống, đôi khi phát xuất từ
những cơ nguyên rất nhỏ như một tia nắng, vài cụm mây, mấy giọt sương,
đôi mắt ngây thơ của đứa trẻ, tia lửa hồng trong ḷ sưởi... vô vàn hạt
châu vây quanh quanh chúng ta, nhưng chúng ta không thấy, chúng ta vô
t́nh dẫm lên, quay lưng lại. Thạch Lam lặng lẽ nhặt lên "từng hột
sáng" ấy, dẫn chúng ta trở về lối cũ, dưới gốc hoàng lan, hưởng lại
những mùi xưa, mùi tuổi thơ, mùi quê hương đă tàn phai trong trí nhớ
truân chuyên phủ nhiều bụi bặm chua chát của trưởng thành. Nhà văn bảo
chúng ta thử "ngửi cái mùi cát, mùi đất, lẫn mùi khói rác người ta
đốt ở đầu làng buổi chiều, theo gió với sương mà tràn vào trong phố."
rồi Thạch Lam mách chúng ta nghe "tiếng tích tắc đều đều kêu se sẽ
cái sống ban đêm của giây cót thép", cho ta biết "nước giữ cái
mát của đêm trên mặt, và cây hồng giữ cái mát của đêm trong kẽ lá",
tất cả những thứ đó tạm gọi là những "thủ pháp" sống, tiếng Pháp có chữ
"truc", láu hơn; và những nhân vật của Thạch Lam đầy những "truc" nhỏ
như thế, Bính (trong Buổi sớm) cảm thấy "cái yên" và cái mát" gặp nhau
trong giác quan "thứ sáu" của ḿnh: "yên tĩnh và mát quá, một cái
yên tĩnh mát hay một cái mát yên tĩnh chàng cũng không biết nữa"
(trang 116), Bính c̣n nhận ra cả "cái chấm đỏ thắm như màu mệt của
một ngọn đèn lục lộ treo giữa lối, lặng chiếu từ đầu xa" (trang
116).
Phải thính và tinh lắm mới nh́n được những màu sắc như thế, nghe được
những tiếng động như thế, hoặc bắt gặp được "đôi mắt chị bóng tối
ngập đầy dần" như thế (trang 102).
Với giác quan "thứ sáu", Thạch Lam hay "chú sáu" có khả năng làm cho
cái tĩnh trở thành cái động, cái động trở thành cái tĩnh, đôi khi cả
tĩnh lẫn động cùng lên tiếng một lúc trong cơi giác vô âm: giác quan bí
mật của nhà văn cộng hưởng với óc tưởng tượng của chúng ta; và để tạo
nhạc, nhà văn không cần đến những tiếng động có sẵn, ồn ào bên ngoài.
Âm thanh, màu sắc, hương thơm, thoảng táp vào ngũ quản những bước âm
thầm. Thạch Lam đă t́m ra con đường huyền bí nối liền thiên nhiên và con
người, những huyền bí ấy đôi khi ta cảm thấy, nhưng không thể nói ra,
không thể diễn tả một cách chính xác. Cuộc đi của Thạch Lam bao giờ cũng
mở đầu bằng một ngẫu nhiên hết sức tầm thường:
"Gần hết mùa hè ... Tôi không rời bỏ Hà Nội một cách đột nhiên. Buổi sớm
kia, khi trở dậy trong căn pḥng nhà trọ, tôi thấy ánh nắng rực rỡ xuyên
qua các khe lá đến nhẩy múa trên mặt tường.
Trời trong và gió mát quá, khiến tôi chợt nhớ đến cánh đồi, ruộng ở chỗ
ông Ba ở mà đă lâu năm tôi chưa về thăm."
(Nắng Trong Vườn, trang 7).
Đó là lối kết hợp ngẫu nhiên và thiên nhiên, một bí quyết nghệ
thuật thường thấy trong tác phẩm của Thạch Lam: Hôm nay trời nắng, nẩy
ra ư đi chơi, từ đó sinh ra bao "sự" khác: gặp lá, gặp hoa, gặp người...
Hôm nay trời mưa, giở quyển sách cũ ra đọc, lạc lối đến một chỗ khác,
vào những quanh co rắm rối khác của tư tưởng...
Bên kia sông,
quê tác giả, qua con cầu gỗ, có một chốn bí mật gọi là bến Sen, cậu sáu
hồi đó muốn sang khám phá lắm nhưng chưa dám. T́nh cờ có anh bạn
ở bên Sen xin vào học cùng trường. Thế là có dịp sang chơi bên Sen, gặp
và yêu chị Thúy... Bà Cả (trong Đứa con) là một người đàn
bà không có con, keo kiệt và đanh ác. Bỗng một hôm được bế một
đứa bé kháu khỉnh, ḷng dịu đi, bà thay đổi thái độ, trở nên rộng răi
gần như nhân từ... Chỉ cần một chút than hồng, khơi thêm ngọn lửa
trong ḷ sưởi, Vân (trong Bóng người xưa) đă thấy hiện lên h́nh
ảnh một người vợ khác - người đàn bà trẻ chàng đă yêu ngày xưa - khác
hẳn người vợ già mà chàng luôn luôn dày ṿ và hành hạ bây giờ. Đổi hẳn
cách sử xự với vợ, từ lănh đạm tàn ác chàng trở lại với âu yếm săn sóc...
Chỉ cần một hôm dậy sớm, tiếp nhận "cái yên tĩnh mát" của
buổi sáng và "một thứ ánh sáng lạnh và biêng biếc như thiếc
mới" là Bính thấy "máu bắt đầu chẩy mạnh như xô nhau đi
đón khí trời trong" và chàng đă t́m lại được "buổi sáng" mà
từ lâu, sống đời trác táng giang hồ, chàng đă "quên không biết buổi
sáng thế nào"...
Thạch Lam khác với những người cùng thời, kể cả các anh. Trong khi mọi
người thi nhau viết tiểu thuyết luận đề, hoặc hiện thực xă hội, với
những mục đích chính xác: lên án xă hội hoặc cổ vũ quần chúng theo con
đường mới. Thạch Lam cũng muốn "tố cáo và thay đổi một cái thế giới
giả dối và tàn ác" đấy, như ông viết trong "Lời nói đầu" tập Gió
đầu mùa, nhưng Thạch Lam không cải thiện, giáo huấn mà ông nhờ
thiên nhiên, nhờ t́nh cờ nói hộ để gián tiếp "gơị ư" cho ta
biết chỉ một "sự" cỏn con như vậy cũng có thể thay đổi định mệnh con
người; ta có thể sống cao hơn, nhân ái hơn, tại sao không nghĩ ra? Và
tất cả chỉ chênh vênh trên một "sợi tóc", ai cũng có thể "làm nên" hay "làm
xuống" những truyện tầy đ́nh. Từ chối chỉ đạo mà chỉ gợi ư, Thạch Lam đă
làm công việc của một nhà thơ trong văn và ông coi ngẫu nhiên như
một tất yếu của cuộc sống...
Trích từ
“Thạch Lam” của Thụy Khuê
http://thuykhue.free.fr/
o0o
Tư
Tưởng
Nghệ
Thuật
của
Thạch
Lam
Hoàng Thiệu Khang
Mọi cái rồi sẽ trôi đi, riêng sự thật c̣n lại "Qua bao biến thiên lịch
sử, qua bao chính kiến nghệ thuật tả hữu... dọc con đường từ 45, văn
chương và tư tưởng về văn chương của Thạch Lam vẫn là một trong những
giá trị c̣n lại".
1
- Văn chương của Thạch Lam là những trang đẹp. Cho đến nay, nó càng làm
lôi cuốn tâm hồn những con người đương đại, những con người đă trải qua
hai cuộc chiến có máu và lửa thảm khốc. Thoát ra khỏi không gian và thời
gian "Vầng trăng và quầng lửa", con người hôm nay t́m về Thạch Lam như
nhu cầu t́m về một cơi hiền hoà, yên tĩnh, dịu dàng...; về một cơi ḿnh
có thể lắng nghe ḿnh - về thời gian của "Gió đầu mùa", không gian của "Nắng
trong vườn", hương vị của "Hà nội 36 phố phường"...
2
- Văn chương của Thạch Lam là những trang hiện thực thoáng qua, những
dấu ấn c̣n lại trong cảm nhận của ta sau một cơn gió nhẹ... dấu ấn trong
miên man. Đó là chủ nghĩa hiện thực không tả thực, một chủ nghĩa hiện
thực mỹ thuật (réolisme pitoresque). Ở đây không có rùng rợn và băo tố,
không có sần sùi, gồ ghề kịch tính... Tất cả chỉ là đẹp và tinh tế;
những "Dưới bóng hoàng lan, Đứa con đầu ḷng"... đi nhẹ vào tâm thức ta.
3
- Cũng có khi văn chương của Thạch Lam đưa mỗi chúng ta vào một tự vấn
về nhân cách, nhân phẩm, lương tâm, danh dự... nghĩa là những tự vấn ở
vùng đạo lư, đạo đức tiên thiên; những "Sợi tóc, Đứa con trở về "...
mang h́nh câu hỏi tra vấn nhẹ nhàng.
4
- Từ thẩm mỹ cho đến tư tưởng, văn chương Thạch Lam xu hướng vế cái đẹp
của chất người, và chúng ta hiểu, v́ sao Thạch Lam để lại nhiều giá trị
hơn cả so với những giá trị khác trong Tự lực văn đoàn. Thạch Lam cảm
hứng trên hằng số của tinh thần, cho nên văn chương của ông cũng trở
thành một hằng số giá trị trong văn học Việt Nam.
Thời văn học Việt Nam những thập kỷ 30 - 40, các tư tưởng về nghệ thuật,
dẫu đứng phía nào, ở nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân
sinh, ở chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa lăng mạn... cũng đều ở tŕnh
độ giản đơn, nếu không nói là thô sơ. Các nhà tư tưởng nghệ thuật thưở
ấy mang cấu trúc tư duy tam đoạn luận. Chưa thấy có sự xác lập nhiều
tiền đề trong mạch lư giải, biện luận. Do vậy, tính biện chứng bị vắng
bóng. Họ chưa thấy được nghệ thuật và văn chương là những hoạt động
nhiều chiều và có khi là chúng ngược nhau, đan dệt ngang dọc. Họ tuyệt
đối hoá một tiền đề để đi tới một hợp đề duy nhất. Cho nên các cuộc
tranh luận như là rơi vào t́nh trạng bất đồng ngôn ngữ, không có giao
lưu, thắng bại.
Trong bối cảnh và t́nh cảnh tư tưởng ấy, Thạch Lam xuất hiện trong một
tư tưởng về sứ mệnh của văn chương (nghệ thuật). Thạch Lam đang đặt văn
chương đối diện với một sứ mệnh toàn vẹn. Trong lời tựa tập "Gió đầu mùa",
ông viết:
"Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự
thoát ly hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao
và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới
đầy giả dối và tàn ác, vừa làm cho ḷng người thêm trong sạch và phong
phú hơn... " So với thời đại của ḿnh, tư tưởng nghệ thuật này tỏ ra
hiểu văn chương hơn cả.
Có thể t́m thấy trong những lời phát biểu ấy những nội dung như sau:
1
- Thạch Lam lắc đầu với loại văn chương đem đến cho người đọc thái độ
thoát ly, quên lăng thực trạng cuôc sống.
Thạch Lam đang sống và làm việc với những người bạn chí thân trong Tự
lực văn đ̣an, những Thế Lữ (Tôi chỉ là người bộ hành phiêu lăng, Đường
trần gian xuôi ngược thú vui chơi..), những Xuân Diệu (Tôi là con chim,
đến từ núi lạ, ngửa cổ hót chơi...), thế mà ông vẫn cứ lắc đầu!
Phải công bằng - một công bằng mang tính lịch sử, mà nói rằng, văn
chương thời ấy có một loại (mà chúng ta hay mệnh danh là văn học lăng
mạn), bên cạnh những tư tưởng nghệ thuật rất quư giá, vẫn đă rơi vào cái
hạn chế mà Thạch Lam vừa đề cập tới (đem đến cho người đọc sự thoát ly,
sự quên).
Trong một cảm nhận thú vị và khâm phục Thơ Mới, chính nhà phê b́nh Hoài
Thanh (trước 45) đă viết:
"Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu trường t́nh cùng Lưu Trọng Lư,
ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu.
Nhưng động tiên đă khép, t́nh yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say
đắm vẫn bơ vơ... ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận... "
(Thi nhân Việt Nam)
Thoát ly và quên lăng, xét đến cùng, cũng là một thái độ phản kháng thực
tại. Nhưng nó không nhập cuộc. Thạch Lam muốn có một cái thế nhập cuộc
của văn chương.
2
- Văn chương với Thạch Lam phải là một thứ khí giới. Con người sinh ra
văn chương, mong muốn nó trờ thành một công cụ chiến đấu cho hạnh phúc
của con người. Đó là một sứ mệnh xét từ góc độ sinh thành chủng loại văn
chương - nghệ thuật. Đó là quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh. Nhưng khi
văn chương phát triển th́ cũng phải nh́n nó từ góc độ sinh thành cá thể.
Từ góc độ này, có thể chấp nhận thái độ nghệ thuật vị nghệ thuật. B́nh
diện nhân sinh nằm nơi sâu của tiềm tàng, b́nh diện nghệ thuật sẽ bay
lên như một cơi riêng từ cái nền tiềm tàng đó.
Muốn vị nhân sinh hay vị nghệ thuật th́ nghệ thuật vẫn là tiếng nói của
trái tim con người, vẫn là cuộc giao lưu giữa trái tim và những trái tim.
Tự nó, văn chương đă mang cái véc - tơ hướng vào con người, vào cuộc đời.
Văn chương, với Thạch Lam, là một thứ khí giới. Nhưng nó không mang tính
vật chất thô thiển, nó là thứ khí giới thanh cao. Nó đến với nơi thanh
cao của tinh thần con người.
Viết đến đây, tôi tự nhiên liên tưởng tới thơ Sóng Hồng:
Dùng cán bút làm đ̣n xoay chế độ
Mỗi vần thơ - bom đạn phá cường quyền...
3
- Sứ mệnh đầu tiên của văn chương, theo Thạch Lam, là tố cáo và thay đổi
cái thế giới giả dối và tàn ác.
Văn chương có thể nào khác như thế được khi con người đang bị ch́m trôi
trong bao bi kịch bởi sự tàn ác và giả dối. Đưa sự mệnh tố cáo lên hàng
đầu, Thạch Lam muốn văn chương phải mang được một chủ nghĩa nhân đạo
hiện thực (Nhà Mẹ Lê)
Nhưng khi ngôi nhà của cơ chế cũ đă nát vụn dưới buá tạ của văn chương
phê phán, khi thói tàn bạo và giả dối đă bị phơi ra dưới ánh nắng mặt
trời... th́ văn chương cũng phải cảm nhận được một mạch sống đang chảy
về đâu. Văn chương phải góp phần cho cuôc thay đổi. Sinh thành cá thể
phải nằm trong sinh thành chủng loại của nó.
4
- Sứ mệnh đích thực của thứ khí giới thanh cao này là làm cho ḷng người
thêm trong sạch và phong phú hơn.
Văn chương tắm gội tâm hồn con người. Sống trong những điều kiện hiện
thực, con người vướng nhiều bụi bặm. Bên những tinh chất, con người cũng
mang những tạp chất. Con người dễ rơi vào tiền tài, danh vọng... rơi vào
chốn phù du... Văn chương có tác dụng "thanh lọc" (Katharsis - chữ dùng
của Pythagore) tinh thần con người.
Lại nữa, tưởng tượng nếu không có văn chương - nghệ thuật th́ tâm hồn
con người sẽ nghèo đi biết bao nhiêu. Văn chương là một trường thể
nghiệm những rung động thẩm mỹ mănh liệt và sâu lắng. Nó đến với hồn ta.
Nó nhân đôi mỗi trái tim chúng ta.
Tôi đă vẽ chân dung Thạch Lam với những nét đơn sơ nhưng đầy ḷng cảm
mến.
Trích từ
http://vanhoc.xitrum.net/
|