Home

 
 

Nguyn Du và Truyn Kiu

 

 

     

           pic_41.jpg


Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, người xă Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

Là ḍng dơi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, từng làm tới Tể Tướng triều Lê mạt; mẹ là người vợ thứ ba, nhũ danh Trần Thị Tần người Kinh Bắc; anh là Toản Quận Công Nguyễn Khản cũng làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều.

Sinh ra trong một gia đ́nh quan lại, có truyền thống văn học, năng khiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển. Từ nhỏ ông đă nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường. V́ lẽ ǵ không rơ, ông không tiếp tục thi lên nữa.

Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân Thanh. Nguyễn Du, v́ tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, mời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ măi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Năm 1805, ông được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầu. Năm 1813, thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.

Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy trở ngại. Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc chí.
Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ ǵn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua th́ ra dáng sợ sệt như không biết nói năng ǵ...''

Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi th́ ông đột ngột qua đời.

Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đă lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều ǵ."


TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

Ngoài Truyện Kiều nổi tiếng ra, Nguyễn Du c̣n để lại
- Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh
- Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu
- Thác Lời Trai Phường Nón (bằng chữ Nôm)

và ba tập thơ chữ Hán:
- Thanh Hiên Thi Tập,
- Nam Trung Tạp Ngâm, và
- Bắc Hành Tạp Lục.


ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH (Truyện Kiều)

Kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du là một truyện thơ nôm viết bằng thể lục bát, dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc, gồm 3.254 câu thơ.

Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều đă sống chan hoà trong đời sống của toàn dân tộc. Không riêng ǵ Văn học Việt Nam, mà trong Văn học thế giới cũng hiếm có tác phẩm nào chinh phục được rộng răi t́nh cảm của đông đảo người đọc, từ già đến trẻ, từ người có học đến quần chúng b́nh dân trước đây phần lớn bị thất học, như Truyện Kiều.
Sở dĩ như thế là v́ ngoài nội dung phong phú và sâu sắc của nó, Truyện Kiều c̣n là một tác phẩm chứa đựng tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc.

Ở TRUYỆN KIỀU, NGÔN NGỮ BÁC HỌC VÀ NGÔN NGỮ B̀NH DÂN đă kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau và phát huy cao độ những mặt tích cực của nó. Một trong những thành công khác về mặt nghệ thuật của Truyện Kiều là sự tài t́nh của nhà thơ trong cách sử dụng điển cố, điển tích. Hơn 100 điển tích được cập nhật trong chuyên mục này sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về tác phẩm Truyện Kiều cũng như ng̣i bút tài hoa của nhà thơ Nguyễn Du.



NHẬN XÉT VỀ NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU

Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân: "... Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẩn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh gảy xong mà oán hận vẩn c̣n chưa hả, th́ dẩu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra h́nh như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế th́ gọi tên là Đoạn Trường Tân Thanh cũng phải."

"Ta nhân lúc đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đă khổ, tự sự đă khéo, tả cảnh đă hệt, đàm t́nh đă thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cơi, tấm ḷng nghĩ suốt cả ngh́n đời, th́ tài nào có cái bút lực ấy...''

Phong Tuyết chủ nhân: "Đem bút mực tả lên trên tờ giấy nào những câu vừa lâm ly, vừa ủy mị, vừa đốn tỏa, vừa giải thư, vẽ hệt ra người tài mệnh trong mười mấy năm trời, cũng là v́ cái cảnh lịch duyệt của người ấy có lâm ly, ủy mị, đốn tỏa, giải thư, mới có cái văn tả hệt ra như vậy...''

Phạm Quỳnh: "Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n; tiếng ta c̣n, nước ta c̣n...''

Dương Quảng Hàm: "trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới đến các kẻ thường dân phụ nhụ, ai cũng thích đọc, thích ngâm và thuộc được ít nhiều...''

Ca dao:

Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều...


Huỳnh Thúc Kháng: "(Truyện Kiều) về mặt mỹ thuật rơ là cực tốt, mà ở trong đựng những vật có chất độc...''

Georges Boudared:
"Few poets in the world have been able to acquire a profound resonnance among their people like Nguyễn Du in Việt Nam. His Tale of Kiều is a classic of Vietnamese literature, but a kind of classic that is well-known to all people without exception"

Ít nhà thơ trên thế giới có khả năng đạt được tiếng vang sâu đậm trong dân chúng của ḿnh như Nguyễn Du ở Việt Nam. Truyện Kiều của ông là cuốn sách kinh điển của văn chương Việt Nam nhưng là một thứ kinh điển mọi người đều biết không một ngoại lệ nào.

 

     o0o

     

Truyn Kiu

         pic_40.jpg

         

Kiu Thăm M Đm Tiên 

 

1..Trăm năm trong cơi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng.

 

 

5.. Lạ ǵ bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong t́nh có lục c̣n truyền sử xanh.
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,


10.. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.
Một trai con thứ rốt ḷng,
Vương Quan là chữ, nối ḍng nho gia.


15.. Đầu ḷng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,


20.. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.


25.. Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một, hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đ̣i một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tư trời,


30.. Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh, lại càng năo nhân.


35.. Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Ngày xuân con én đưa thoi,


40.. Thiều quang chín chục đă ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.


45.. Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập d́u tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang g̣ đống kéo lên,


50.. Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.


55.. Nao nao ḍng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: Sao trong tiết thanh minh,


60.. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?
Vương Quan mới dẫn gần xa:
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
Nổi danh tài sắc một th́,
Xôn xao ngoài cửa hiếm ǵ yến anh.


65.. Kiếp hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân thoắt găy cành thiên hương.
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng t́m chơi.
Thuyền t́nh vừa ghé tới nơi,


70.. Th́ đà trâm gẫy b́nh rơi bao giờ.
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đă rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự t́nh,
Khéo vô duyên ấy là ḿnh với ta.


75.. Đă không duyên trước chăng mà,
Th́ chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm xanh nếp tử xe châu,
Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn ác tà,


80.. ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!
Ḷng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đă đầm đầm châu sa.
Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.


85.. Phũ phàng chi bấy hoá công,
Ngày xanh ṃn mỏi má hồng phôi pha.
Sống làm vợ khắp người ta,
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.
Nào người phượng chạ loan chung,


90.. Nào người tích lục tham hồng là ai ?
đă không kẻ đoái người hoài,
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng biết cho.


95.. Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,
Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra.
Một vùng cỏ áy bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,


100.. Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài


105.. Vân rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.
Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu ?
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,


110.. Thấy người nằm đó biết sau thế nào ?
Quan rằng: Chị nói hay sao,
Một lời là một vận vào khó nghe.
ở đây âm khí nặng nề,
Bóng chiều đă ngả dậm về c̣n xa.


115.. Kiều rằng: Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách, c̣n là tinh anh,
Dễ hay t́nh lại gặp t́nh,
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ.
Một lời nói chửa kịp thưa,


120..Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.
ào ào đổ lộc rung cây,
ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Đè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành.


125.. Mắt nh́n ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa.
Hữu t́nh ta lại gặp ta,
Chớ nều hiển mới là chị em.
Đă ḷng hiển hiện cho xem,. 

Tạ ḷng nàng lại nối thêm vài lời.


130..Ḷng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đă tiếng nghe gần gần.


135.. Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu gịn,


140.. Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự t́nh.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.


145.. Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,


150..Văn chương nết đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhă, ra ngoài hào hoa.
Chung quanh vẫn đất nước nhà,
Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân.


155..Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một nền đồng Tước khoá xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm nhớ thầm yêu chốc ṃng.
May thay giải cấu tương phùng,


160..Gặp tuần đố lá thoả ḷng t́m hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
T́nh trong như đă, mặt ngoài c̣n e.


165.. Chập chờn cơn tỉnh cơn mê.
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người c̣n nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,


170..Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.
Mảnh trăng chênh chếch ḍm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.


175..Hải đường lả ngọn đông lân,
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà.
Một ḿnh lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:
Người mà đến thế th́ thôi,


180..Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên ǵ hay không?
Ngổn ngang trăm mối bên ḷng,
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính t́nh.


185..Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa nương bên triện một ḿnh thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,


190.. Sen vàng lăng đăng như gần như xa.
Chào mừng đón hỏi ḍ la:
Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây ?
Thưa rằng: Thanh khí xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đă quên.


195..Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới ḍng nước chảy bên trên có cầu.
Mấy ḷng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
Vâng tŕnh hội chủ xem tường,


200.. Mà sao trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cùng người một hội, một thuyền đâu xa!
Này mười bài mới mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.


205.. Kiều vâng lĩnh ư đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nức nở khen thầm:
Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường
Ví đem vào tập đoạn Trường


210.. Th́ treo giải nhất chi nhường cho ai.
Thềm hoa khách đă trở hài,
Nàng c̣n cầm lại một hai tự t́nh.
Gió đâu xịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng ḿnh chiêm bao.


215..Trông theo nào thấy đâu nào
Hương thừa dường hăy ra vào đâu đây.
Một ḿnh lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Hoa trôi bèo dạt đă đành,

 
220.. Biết duyên ḿnh, biết phận ḿnh thế thôi!
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ đ̣i cơn lại sụt sùi đ̣i cơn.
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ ǵ ?


225..Cớ sao trằn trọc canh khuya,
Màu hoa lê hăy dầm dề giọt mưa ?
Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả đạm Tiên,


230.. Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
đoạn trường là số thế nào,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Phận con thôi có ra ǵ mai sau !


235.. Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu,
Bỗng không mua năo chuốc sầu nghĩ nao.
Vâng lời khuyên giải thấp cao,
Chưa xong điều nghĩ đă dào mạch Tương.
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,


240.. Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
Hiên tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một ḿnh.
Cho hay là thói hữu t́nh,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.

 

2. Người có tài th́ thường gặp mệnh bạc, h́nh như Tài, mệnh ghét nhau, xung khắc với nhau, hễ được hơn cái này th́ phải kém cái kia.

3. Bể dâu: Trong văn chương cổ của chúng ta thường dùng thành ngữ "băi bể nương dâu", hoặc nói tắt là "bể dâu" để chỉ những sự biến đổi thăng trầm của cuộc đời.

5. Bỉ sắc tư phong: Cái kia kém th́ cái này hơn, nghĩa là: Được hơn điều này th́ bị kém điều kia.

6. (Tạo hoá ghen với người đàn bà đẹp). ư nói: Người đàn bà đẹp thường gặp cảnh ngộ không hay.

7. Cảo thơm hay Kiểu thơm: do chữ phương cảo, nghĩa là pho sách thơm pho sách hay.

8. Phong t́nh: Chỉ những chuyện ái t́nh trai gái.

Sử xanh: Thời xưa, khi chưa có giấy, người ta chép sử bằng cách khắc chữ vào những thanh trúc, cật trúc màu xanh, nên gọi là thanh sử.

9. Gia-tĩnh: Niên hiệu vua Thế Tông, nhà Minh (1522-1566).

10. Hai kinh: Tức Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc).

11. Viên ngoại: Một chức quan giữ việc sổ sách tại các bộ, đặt ra từ thời Lục-triều. Về sau, "Viên ngoại" dần dần trở thành một hư hàm. Chữ "Viên ngoại" ở đây được dùng theo nghĩa này.

14. Chữ: Theo lễ nghi Trung Quốc xưa, người nào cũng có "danh" là tên chính, và "tự" là tên chữ ("Danh" đặt từ khi sinh ra, c̣n "tụ" th́ đến khi hai mươi tuổi mới dựa theo "danh" mà đặt ra).

15. Tố Nga: Chỉ người con gái đẹp.

17. Thuư Kiều và Thuư Vân, mỗi người có một vẻ riêng ví như mai có "cốt cách" của mai, tuyết có "tinh thần" của tuyết.

20. Khuông trăng: Khuôn mặt đầy đặn, tṛn trĩnh, xinh xắn như mặt trăng. Nét ngài: nét lông mày.

21. Thốt: Tiếng cổ có nghĩa là nói.

Hoa cười, ngọc thốt: cười tươi như hoa, nói đẹp như ngọc.

25. Thu thuỷ: Nước mùa thu, Xuân sơn: Núi mùa xuân. Câu noi này ví mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xinh đẹp như rặng núi mùa xuân.

27. Bài ca của Lư Diên Niên, đời Hán, ca ngợi sắc đẹp của một mĩ nhân có câu:

Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc

Nghĩa là:

Quay lại nh́n một lần th́ làm nghiêng thành người
Quay lại nh́n lần nữa th́ làm nghiêng nước người.

Do đó, người sau thường dùng chữ nghiêng nước (khuynh quốc), nghiêng thành (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp phi thường của người phụ nữ.

Hai chữ một hai trong câu này dịch mấy chữ nhất cố, tái cố ở trên.

28. Câu này có nghĩa là về "sắc" th́ chỉ có một ḿnh Kiều là nhất, về "tài" th́ họa may ra th́ c̣n có người thứ hai nữa.

31. Cung, thương: Hai âm đứng đầu ngũ âm trong cung bậc nhạc cổ của Trung Quốc: Cung, thương giốc, truỷ, vũ.

Lầu bậc: Làu thông cung bậc.

32. Hồ cầm: Một loại đàn tỳ bà.

Hồ cầm một trương: Một cây đàn hồ cầm.

34. Bạc mệnh: Tên bản đàn do Thuư Kiều sáng tác. "Bạc mệnh" nghĩa là số mệnh bạc bẽo, mỏng manh.

Năo nhân: Làm cho người ta nghe mà năo ḷng.

35. Hồng quần: Cái quân màu hồng, hai chữ này được dùng để chỉ nữ giới.

36. Cặp kê: Đến tuổi cài trâm (Kê nghĩa là cài trâm). Theo lễ cổ Trung Quốc, con gái 15 tuổi đến th́ hứa gả chồng cho nên bắt đầu búi tóc cài trâm.

38. Tường đông: Bức tường ở phía đông. Thời xưa con gái thường ở nhà phía đông. Đây dùng chữ "tường đông" để chỉ chỗ có con gái đẹp ở.

39. Con én đưa thoi: Chim én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa.

40. Thiều quang: ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), mà đă ngoài 60, tức là đă bước sang tháng ba.

43. Thanh minh: Là tiết đầu của mùa xuân nhằm vào đầu tháng ba.

44. Tảo mộ: Quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết Thanh minh con cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên.

Đạp thanh: Dẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xuân, dẫm lên cỏ xanh ngoài đồng, do đó mà gọi hội Thanh minh là hội Đạp thanh.

45. Yến anh: Chim yến (én), chim anh (có khi đọc là oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Đây ví với cảnh những đoàn người rộng ràng đi chơi xuân.

48. Ngựa đi như nước: Ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp này đến lớp khác.

áo quần như nêm: ư nói người đông đúc, chen chúc.

49. Ngổn ngang g̣ đống kéo lên: Những đoàn người ngổn ngang kéo nhau lên nơi g̣ đống.

50. Vàng - vó: Một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ hội.

53. Tiểu khê: Ng̣i nước nhỏ.

62. Ca nhi: Con hát.

65. Hồng nhan: Má hồng, chỉ người đẹp.

66. Cành thiên hương: Cành hoa thơm của trời, ví với người đẹp.

70. Trâm găy b́nh rơi: ư nói người đẹp đă chết.

72. Dấu xe ngựa: Dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi bời trước đấy.

74. Bấy: Biết bao nhiêu.

77. Nếp tử, xe châu: Quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang có rèm hạt châu. ư nói người khách mua quan tài và thuê xe tang chông cất Đạm Tiên một cách chu đáo.

78. Bụi hồng: do chữ hồng trần, nghiă là đám bụi đỏ.

Đây muốn ám chỉ nấm mộ nằm bên đường, một nấm mồ lưu lại trong cơi trần gió bụi.

79. Thỏ bạc, ác vàng: Người xưa cho rằng trong mặt trăng có con thỏ giă thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân.

82. Châu: Hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt.

85. Hoá công: Thợ tạo hoá, tức là trời.

86. Phượng: Chim phượng trống. LoanI: Chim phượng mái. Trong văn cổ, loan phương dùng để chỉ đôi lứa vợ chồng. ở đây chỉ những khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm tiên, ngày trước.

90. Tiếc lục tham hồng: ư nói luyến tiếc, ham sắc đẹp của giai nhân.

94. Suối vàng: Do chữ Hoàng tuyền ở dưới đất có mạch suối, mà đất thuộc màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền.

97. áy: Vàng úa.

.

.

.

.

112. Vận vào: ư nói lời nào cũng như ám chỉ vào ḿnh.

.

113. ÂÂAm khí: Cái khí cơi âm, cơi chết, ở đây chỉ không khí băi tha ma.

.

.

116. Thể: Thể xác (hữu h́nh). Phách: Chỉ những cái ǵ vô h́nh chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại.

.

118. Hiển linh: Tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết.

.

.

126. Tinh thành: Ḷng thành thuần khiết, ḷng chí thành.

.

128. U hiển: U là tối, chỉ cơi chết. Hiển là sáng rơ, chỉ cơi sống. ư nói: chớ nề kẻ sống, người chết, kẻ cơi âm , người cơi dương.

.

.

.

.

136. Tay khấu: Tay càm cương ngựa. ư nói, buông lỏng dây cương cho ngựa đi thong thả.

Dăm băng: Như nói dặm đường đi. Băng là lướt đi.

137. Lưng túi gió trăng: Tức là lưng túi thơ. Những nhà thơ thời xưa hay ngâm phong vịnh nguyệt, nên người ta gọi thơ là phong nguyệt (gió trăng).

139. Câu: con ngựa, non trẻ, xinh đẹp.

142. Tự t́nh: Chuyện tṛ, bày tỏ tâm t́nh.

143. Hài văn: Thứ giày thêu mà nho sĩ thời xưa thường dùng.

Dặm xanh: Dặm cỏ xanh.

144. Cây quỳnh, cành giao: Cây ngọc quỳnh và cây ngọc giao. ư nói vẻ khôi ngô tuấn tú của Kim Trọng như làm cho cả một vùng cũng hoá thành đẹp.

146. Hai Kiều: Hai người con gái xinh đẹp, tức hai chị em Thuư Kiều.

148. Trâm anh: Trâm là cái trâm để cài búi tóc. Anh là cái dải mũ, hai thứ dùng trang sức cho cái mũ của người sĩ tử, quan chức. Nhà trâm anh: Chỉ những nhà thế tộc phong kiến, có người đỗ đạt, làm quan.

149. Phú hậu: Giàu có.

150. Nết đất: Theo lối nhà, theo ḍng dơi trong nhà, mạch đất đó có truyền thống văn chương.

151. Phong tư: Dáng điệu.

Tài mạo: Tài hoa và dung mạo.

152. Phong nhă: Phong lưu nho nhă. Hào hoa: Sang trọng phong cách có vẻ quí phái. Vào trong là ở trong nhà, Ra ngoài là ra giao thiệp với đời.

154. Đồng thân: Bạn cùng học.

155. Hương lân: Làng xóm, ư nói: Vẫn nghe tiếng khen đồn đại ở vùng lân cận.

156. Đồng tước: Đời tam quốc, Tào Tháo đào sông Chương Hà, bắt được đôi chim sẻ đồng, bèn cho xây ở gần đó một toà lâu đài, đặt tên là đài Đồng Tước (sẻ đồng), và định hễ đánh thắng Đông Ngô th́ bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là vợ Tôn sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Khoá xuân ở đây là khoá kín tuổi xuân, tức cấm cung, tác giả mượn điển cũ để nói lóng rằng: nhà họ Vương có hai cô gái đẹp cấm cung.

157. Buồng thêu: Buồng người con gái.

158. Chốc ṃng: Tiếng cổ, nghĩa là bấy lâu, bấy nay.

159. Giải cấu tương phùng: Cuộc gặp gỡ t́nh cờ.

160. Đố lá: Hội đố lá, c̣n gọi là diệp hư, một tục chơi xuân có từ đời nhà Đường. Vào khoảng tháng ba, trai gái đi du xuân, bẻ một cành cây rồi đố nhau xem số lá chẵn hay lẻ để đoán việc may rủi. Đây là dịp để họ làm quen và t́m hiểu nhau.

161. Bóng hồng: Bóng người con gái. Phụ nữ Trung Quốc thời xưa hay mặc quần đỏ nên gọi là bóng hồng.

162. Xuân lan, thu cúc: Hai chị em Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng, ngựi như lan mùa xuân, người như cúc mùa thu.

163. Quốc sắc: Sắc đẹp nhất nước, chỉ Thuư Kiều.

166. Chỉn: Tiếng cổ. Chin khôn: chẳng xong, không xong.

173. Gương nga: Theo truyền thuyết trong cung trăng có chị Hằng Nga, nên thường gọi trăng là "gương nga".

174. Vàng gieo ngấn nước: ánh trăng vàng dọi xuống ngấn nước.

175. Đông lân: Xóm bên đông, nơi có con gái đẹp ở, cũng giống nghĩa chữ "tường đông" (xem chú thích 38).

Hải đường là ngọn đông lân: Cây hải đường ở xóm đông ngả ngọn xuống.

177. Bóng nga: Bóng trăng.

179. Người mà: Chỉ Đạm Tiên.

181. Người đâu: Chỉ Kim Trọng.

186. Triện: Lan can.

187. Tiểu Kiều: Xem chú thích 146.

188. Phong vận: Yểu điệu.

Thanh tân: Thanh tú tưới tắn.

189. ư nói mặt và thân h́nh người tiểu kiều đó như có sự và tuyết in phủ lấy.

190. Sen vàng: Chỉ gót chân người đẹp. Đông Hôn Hầu, đời Tề (Nam Bắc Triều), rất yêu quí phi họ Phan, từng đúc hoa sen bằng vàng lát xuống nền nhà, để cho nàng đi lên rồi khen rằng: "Bộ bộ sing liên hoa" (mỗi bước đi nở ra một hoa sen).

Lăng đăng: Tiếng cổ, có nghĩa là đi từ từ chậm chậm, chập chờn mờ tỏ.

192. Đào nguyên: Đời Tần có một người đánh cá chèo thuyền ngược theo một ḍng suối đi măi tới một khu rừng trồng toàn đào, thấy nơi đó có một cảnh sống tuyệt đẹp như nơi tiên ở. Người sau dùng chữ "nguồn đào" hay "động đào" để chỉ cảnh tiên.

193. Thanh khí: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" (cùng một thứ tiếng th́ ứng với nhau, cùng một loại khí th́ t́m đến nhau).

195. Hàn gia: Hèn là nghèo, gia là mọn, nhà xoàng, lạnhlẽo, nói khiêm tốn.

Tây thiên: Phía trời đàng tây, hoặc cánh đồng phía tây.

197. Hạ cố: Trông xuống, chiếu cố đến nhau.

198. Hạ tứ: Ban xuống, ban cho. Cả câu: Hai bài thơ của Kiều lời đẹp ư hay, thật quư báu như là ném cho những hạt châu, gieo cho những thỏi vàng vậy.

200. Đoạn trường: Đứt ruột, chỉ sự đau đớn bi thương. Số đoạn trường: Sổ ghi tên những người phụ nữ bạc mệnh.

201. Quả kiếp nhân duyên: Quả là kết quả. Nhân là nguyên nhân, ư nói duyên (tốt). hay kiếp (xấu) cũng là có nhân với quả cả.

208. Tú khẩu, cẩm tâm: Miệng thêu, ḷng gấm. ư nói thơ Kiều làm rất hay.

.

.

.

.

.

.

.

.

222. Đ̣i cơn: Nhiều cơn.

 

223. Trưởng loan: Màn có thêu chim loan.

 

224. Nhà huyên: chỉ vào bà mẹ. Huyên là cây hoa hiên, theo thuyết cổ, có tính chất làm quên sự lo phiền.

 

226. Hoa lê: Ví với người đẹp, giọt mưa ví với giọt nước mắt.

 

228. Dưỡng sinh: Nuôi dưỡng và sinh ra, chỉ công ơn cha mẹ.

.

.

.

.

235. Mộng triệu: Điều thấy trong mộng.

.

238. MạchTương: Ḍng nước mắt. Tương là tên một con sông ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) chảy vào hồ Động Đ́nh. Ngày xưa, vua Thuấn đi tuần thú, chết ở phương xa, hai người vợ vua là Nga Hoàng và Nữ Anh đi t́m, đến ngồi trên bờ sông Tương, khóc rất thảm thiết, nước mắt vẩy ra những khóm trúc xung quanh, làm cho trúc đó hoá thành những điểm lốm đốm. Về sau, các nhà văn thường dùng chữ mạch Tương, giọt Tương để chỉ nước mắt phụ nữ.

.

.

244. Tơ mành

 

 

Kiu Gp Kim Trng

245.. Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên ḷng biếng khuây.
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.
Mây Tần khóa kín song the,


250.. Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, ḷng ngao ngán ḷng.
Buồng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.  


255.. Mành Tương phất phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng t́nh.
V́ chăng duyên nợ ba sinh,
Th́ chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,  


260.. Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh ŕ,
Nước ngâm trong vắt, thấy ǵ nữa đâu !
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khảy trêu.

 
265.. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn ḍng lá thắm dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,  


270.. Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu ?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.


275.. Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang.
Có cây, có đá sẵn sàng,


280.. Có hiên Lăm thúy, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông

 

285.. Tấc gang đồng tỏa nguyên phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,  


290.. Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm xốc áo vội ra,
Hương c̣n thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.


295.. Giơ tay với lấy về nhà:
Này trong khuê các đâu mà đến đây ?
Ngẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm !
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,


300..Hăy c̣n thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương đă thấy bóng người,
Quanh tường ra ư t́m ṭi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ư đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm ḷng:  


310.Mà ḷng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!
Sinh rằng: Lân lư ra vào,
Gần đây nào phải người nào xa xôi.
Được rày nhờ chút thơm rơi,
Kể đà thiểu năo ḷng người bấy nay!


315. Bấy lâu mới được một ngày,
Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là.
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc khǎn là một vuông.
Bậc mây rón bước ngọn tường,

320. Phải người hôm nọ rơ ràng chẳng nhe?
Sượng sùng giữ ư rụt rè,
Kẻ nh́n rơ mặt người e cúi đầu.
Rằng: Từ ngẫu nhĩ gặp nhau
Thầm trông trộm nghĩ bấy lâu đă chồn.


325. Sương mai tính đă rũ ṃn,
Lần lừa ai biết hăy c̣n hôm nay!
Tháng tṛn như gởi cung mây,
Trần trần một phận ấp cây đă liều!
Tiện đây xin một hai điều,

330. Đài gương soi đến dấu bèo cho chǎng?
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:
Thói nhà bǎng tuyết chất hằng phỉ phong,
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chǎng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.

335. Nặng ḷ xót liễu v́ hoa,
Trẻ thơ đă biết đâu mà dám thưa!
Sinh rằng: Rày gió mai mưa,
Ngày xuân đă dễ t́nh cờ mấy khi!
Dù chǎng xét tấm t́nh si,

340. Thiệt đây mà có ích ǵ đến ai?
Chút chi gắn bó một hai,
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
Khuôn thiêng dù phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.

345. Lượng xuân dù quyết hẹp ḥi,
Công đeo đuổi chẳng thiệt tḥi lắm ru!
Lặng nghe lời nói như ru,
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng.
Rằng: Trong buổi mới lạ lùng,

350. Nể ḷng có lẽ cầm ḷng cho đang!
Đă ḷng quân tử đa mang,
Một lời vàng tạc đá vàng thủy chung.
Được lời như cởi tấm ḷng,
Giờ kim hoàn với khǎn hồng trao tay.

355. Rằng: Trǎm nǎm cũng từ đây,
Của tin gọi một chút này làm ghi.
Sẵn tay khǎn gâm quạt quỳ,
Với cành thoa ấy tức th́ đổi trao.
Một lời vừa gắn tất giao,

360. Mái sau dường có xôn xao tiếng người.
Vội vàng lá rụng hoa rơi,
Chàng về viện sách nàng dời lầu trang.
Từ phen đá biết tuổi vàng,
T́nh càng thấm thía dạ càng ngẩn ngơ.

365. Sông Tương một dải nông sờ,
Bên trông đầu nọ bên chờ suối kia.
Một tường tuyết trở sương che.
Tin xuân đâu dễ đi về cho nǎng.
Lần lần ngày gió đêm trǎng,


370. Thưa hồng rậm lục đă chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường dưới nữa là hai em.
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.

375. Nhà lan thanh vắng một ḿnh,
Ngẫm cơ hội ngộ đă dành hôm nay.
Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoǎn thoắt dạo ngay mái tường.
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,

380. Dưới hoa đă thấy có chàng đứng trông:
Trách ḷng hờ hững với ḷng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.

385. Nàng rằng: Gió bắt mưa cầm,
Đă cam tệ với tri âm bấy chầy.
Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy ḷng gọi chút ra đây tạ ḷng!
Lần theo núi giả đi ṿng,

390. Cuối tường dường có nẻo thông mới rào.
Xắn tay mở khóa động đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên-thai.
Mặt nh́n mặt càng thêm tươi,
Bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên.


395. Sánh vai về chốn thư hiên,
Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông.
Trên yên bút giá thi đồng,
Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên.
Phong sương được vẻ thiên nhiên,


400. Mặt khen nét bút càng nh́n càng tươi.
Sinh rằng: Phác họa vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.
Tay tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.

 

405.Khen: Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này !
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc được giá này cho ngang !
Nàng rằng: Trộm liếc dung quang, 

 

410.Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn .
Nghĩ ḿnh phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông tṛn mà hay ?
Nhớ từ năm hăy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời: 


415.Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Ngh́n thu bạc mệnh một đời tài hoa .
Trông người lại ngẫm đến ta,
Một dầy một mỏng biết là có nên ?'
Sinh rằng: Giải cấu là duyên

 

420.Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều .
Ví dù giải kết đến điều,
Th́ đem vàng đá mà liều với thân !
đủ điều trung khúc ân cần,
Ḷng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.


425.Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đă ngậm gương non đoài .
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giă chàng nàng mới kíp dời song sa .
đến nhà vừa thấy tin nhà,


430.Hai thân c̣n dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một ḿnh.
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu .


435.Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê .
Tiếng sen sẽ động giấc ḥe,
Bóng trăng đă xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,

 
440.C̣n ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,
V́ hoa nên phải đánh đường t́m hoa .
Bây giờ rơ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ? 


445.Vội mừng làm lễ rước vào,
đài sen nối sáp song đào thêm hương .
Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi .
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,


450.đinh ninh hai mặt một lời song song .
Tóc tơ căn vặn tấc ḷng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương .
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn b́nh gương bóng lồng.


455.Sinh rằng: Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút ḷng chưa cam .
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng ?
Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng,


460.Một lời cũng đă tiếng rằng tương tri .
đừng điều nguyệt nọ hoa kia .
Ngoài ra ai lại tiếc ǵ với ai .
Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài,


Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.
465.Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi,
đă ḷng dạy đến dạy th́ phải vâng .
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng Sinh đă tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay, 


470.Làm chi cho bận ḷng này lắm thân !
So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương .
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau . 


475.Khúc đâu Tư mă Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân .
Qua quan này khúc Chiêu Quân,


480.Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia .
Trong như tiếng hạc bay qua,
đục như tiếng suối mới sa nửa vời .
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa .


485.Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu .
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi ṿ chín khúc khi chau đôi mày .
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu .
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi ṿ chín khúc khi chau đôi mày .
Rằng: Hay th́ thật là hay,


490.Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào !
Lựa chi những bậc tiêu tao,
Dột ḷng ḿnh cũng nao nao ḷng người ?
Rằng: Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao !

 


495.Lời vàng âm lĩnh ư cao,
Họa dần dần bớt chút nào được không .
Hoa hương càng tỏ thức hồng,
đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu .
Sóng t́nh dường đă xiêu xiêu, 


500.Xem trong âu yếm có chiều lả lơi .
Thưa rằng: đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đă nao !
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh .


505.đă cho vào bậc bố kinh,
đạo ṭng phu lấy chữ trinh làm đầụ
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Th́ con người ấy ai cầu làm chi !
Phải điều ăn xổi ở th́, 


510.Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày !
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương .
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đă chán chường yến anh . 


505.Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà ḷng rẻ rúng đă dành một bên .
Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,


520.để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai ?
Vội chi liễu ép hoa nài,
C̣n thân ắt lại đền bồi có khi !
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể thêm v́ mười phân .

 


525.Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân,
Tin đâu đă thấy cửa ngăn gọi vào .
Nàng th́ vội trở buồng thêu,
Sinh th́ dạo gót sân đào bước ra .
Cửa sài vừa ngỏ then hoa, 


530.Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.
đem tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.
Liêu dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang. 


535.Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,
Băng ḿnh lẻn trước đài trang tự t́nh.
Gót đầu mọi nỗi đinh ninh,
Nỗi nhà tang tóc nỗi ḿnh xa xôi:
Sự đâu chưa kịp đôi hồi,


540.Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ,
Trăng thề c̣n đó trơ trơ,
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt ḷng.
Ngoài ngh́n dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong c̣n chầy !


545.Ǵn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành ḷng kẻ chân mây cuối trời .
Tai nghe ruột rối bời bời,
Ngập ngừng nàng mới giăi lời trước sau:
ông tơ ghét bỏ chi nhau, 


550.Chưa vui sum họp đă sầu chia phôi !
Cùng nhau trót đă nặng lời,
Dẫu thay mái tóc dám dời ḷng tơ !
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm. 


555.đă nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai .
C̣n non c̣n nước c̣n dài,
C̣n về c̣n nhớ đến người hôm nay !
Dùng dằng chưa nỡ rời tay,


560.Vầng đông trông đă đứng ngay nóc nhà.
Ngại ngùng một bước một xa,
Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.
Buộc yên quảy gánh vội vàng,
Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai .


565.Buồn trông phong cảnh quê người,
đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa .
Năo người cữ gió tuần mưa,
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày .
Nàng c̣n đứng tựa hiên tây,


570.. Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.
Trông chừng khói ngất song thưa,
Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng.

 

245. Thư song: Chỗ cửa sổ pḥng đọc sách.

246. Biếng khuây: Không khuây, không khuây.

247. Sầu đong càng lắc càng đầy: ư nói mối sầu tương tư, càng ngày càng chồng chất lên măi.

249. Câu này ư nói: Mây che kín cửa sổ pḥng Kiều.

251. Tuần trăng khuyết: Khuyết hết cả một tuần trăng (cứ mỗi ḱ trăng tṛn, gọi là một tuần trăng). Chỉ thời gian suốt cả tháng.

Đĩa dầu hao: Đĩa dầu hao cạn (v́ đèn bị thắp khuya).

254. ư cả câu: Bút để lâu không viết đến ngọn bị khô đi, đàn để lâu không gẩy đến dây bị chùng lại. ư nói Kim Trọng buồn trong tương tư, bỏ cả việc học hành và gẩy đàn.

255. Mạch Tương: Mành làm bằng trúc núi Tương.

257. Ba sinh: Do chữ Tam sinh, nghĩa là ba kiếp luân chuyển: "Quá khứ", "hiện tại" và "vị lai" của con người.

260. Kỳ ngộ: Sự gặp gỡ ḱ lạ.

264. Vĩ lô: Cây lau, cây sậy.

266. Lam Kiều: Vùng đất thuộc Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Bùi Hàng, đời Đường, khi thi hỏng về, gặp Vân Kiều tặng bài thơ, có câu:"Lam Kiều tiện thị thần tiên quật, hà tất khi (ḱ) khu thướng ngọc kinh" (cầu Lam là cái tổ tiên đó, hà tất phải vất vả lên đế đô để thi cử làm ǵ). Về sau, Hàng đi qua một nơi, gọi là Lam Kiều, khát nước, vào xin nước một nhà bà lăo gần đấy thấy Vân Anh, (em Vân Kiều), cháu gái bà, người tuyệt đẹp, Hàng ngỏ ư cầu hôn, bà lăo bảo: Bà cân dùng cối ngọc và chày ngọc để giă thuốc huyền sương (thứ thuốc tiên), nếu có những thứ ấy làm sính lễ sẽ gả con cho. Hàng về t́m được cối và chày ngọc đưa đến, lại ở đấy giă thuốc cho bà lăo một trăm ngày, rồi lấy Vân Anh và sau hai vợ chồng cùng lên cơi tiên. ở đây, Lam Kiều chỉ chỗ nhà ở của Kiều

268. Lá thắm: Do chữ Hồng diệp. vu Hựu, đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trôi trên ng̣i nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ng̣i nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ, Vu Hựu lấy được Hàn th́.

Chim xanh: Người ta thường gọi sứ giả đưa tin là "chim xanh" (thanh điểu). Câu này ư nói: Khó thông tin tức mối manh với Thuư Kiều.

 

257. Ngô Việt thương gia: Nhà đi buôn ở nước Ngô, nước Việt (đi buôn xa, nay Ngô, mai Việt).

 

279. Đá: Đây chỉ núi giả (ta thường gọi là núi non bộ) do những tảng đá xếp thành.

 

280. Lâm Thuư: tên cái hiên của nhà Ngô Việt thương gia. V́ có chữ Thuư trùng với một chữ trong tên Kiều nên Kim Trọng mới mừng thầm là có duyên số tiên định.

 

281. Bài: Bày ra, xếp đặt sẵn, do chữ "an bài".

 

283. Song hồ: Cửa sổ dán giấy. Cành mây: Cánh cửa sổ.

 

285-286. ư nói: Cửa động bị khoá, cửa nguồn bị ngăn, cho nên tuy nhà Kiều gần có ganh tấc, mà vẫn là xa xôi cách trở.

 

287. Nhẫn từ: Kể từ khi (tiếng cổ).

293. Tường gấm: Do chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa như gấm (một cách tô điểm văn hoa).

294. Kim thoa: Cái thoa gài tóc bằng vàng.

296. Khuê các: Buồng lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng.

305. Hư không: Bỗng không, tự nhiên.

306. Hợp phố: Tên một quận, trước thuộc Giao châu, nay thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Theo Hán sử: Nguyên xưa, ven bể quận Hợp Phố có loại trai sinh ra một loại ngọc quư, nhưng v́ bọn quan tước tham nhũng, bắt nhân dân đi ṃ ngọc cho chúng, dân t́nh khổ cực, nên ngọc trai biến đi nơi khác hết. Về sau, có vị quan thanh liêm là Mạnh Thường đến nhận chức, cải cách, chính sự, băi lệnh ṃ ngọc, th́ ngọc trai lại dần dần trở về. Do đó, người ta thường nói "Châu về Hợp Phố" (Hợp Phố châu hoàn), để chỉ những trường hợp vật báu đă bị mất lại trở về với chủ cũ.

311. Lân lí: Nguyên nghĩa là xóm và làng, đây dùng như nhgiă bà con láng giềng.

316. Niềm tây: Nỗi ḷng, chút tâm sự riêng.

319. Thang mây: Do chữ vân thê, nguyên là một khí cụ của quân đội thời dùng để trèo vào thành bên địch (thanh cao, tưởng có thể bắc tới mây được).

320. Người hâm nọ: Người gặp gỡ hôm đi thanh minh.

Chăng nhe: (từ cổ) phải chăng là.

322. Kẻ: Chỉ Kim Trọng. Người: Chỉ Kiều, Kim Trọng nh́n tỏ mặt Kiều, mà Kiều th́ e thẹn cúi đầu.

323. Ngẫu nhĩ: T́nh cờ, cũng như "ngẫu nhiên".

324. Chồn: Mệt mỏi, ư nói sốt ruột lắm.

325. Xương mai: Xương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé, nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt (xương mai).

Rũ ṃn: Gầy ṃn, ư nói tương tư mà gầy ṃn đi.

 

327-328: ư nói suốt tháng tâm thần như gửi ở cung trăng.

330. Đài gương: Giá cao,, trên mặt chiếc gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài gương để chỉ người phụ nữ.

Dấu bèo: ư nói thân phận hèn mọn như cánh bèo trôi nổi mặt nước. ở đây là lời Kim Trọng tự nói khiêm.

332. Băng tuyết: ư nói trong sạch, thanh bạch. Chất hằng: Một thể chất lúc nào cũng như thế.

Phỉ phong: Hai thứ rau, người ta dùng lá và củ nấu canh hoặc muối dưa làm món ăn hàng ngày. ư cả câu: Gia đ́nh vốn thanh bạch, mà tư chất th́ cũng b́nh thường, không có tài sắc ǵ, lời Kiều tự khiêm (Bốn chữ trên nói gia đ́nh, bốn chữ dưới nói bản thân).

333. Lá thắm: đă giảng ở câu 268.

Chỉ hồng: Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái lục: V́ Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: "chỉ hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt lăo" (ông già dưới trăng), "Trăng già", "ông Tơ", để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng, tức là tế ông Nguyệt lăo xe dây đỏ đó.

339. Dù chăng: Dù chẳng, nếu không.

343. Khuôn thiêng: Khuôn tạo hóa, chỉ trời. Khuôn do chữ quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo hoá đúc nặn ra muôn vật như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Hồng quân, Thiên quân, (khuôn trời).

Tấc thành: Tấc ḷng chân thành, thành thực.

345. Lượng xuân: Nguyên nghĩa là tấm ḷng tốt đẹp như mùa xuân. C̣n có thể giải là tấm ḷng của người phụ nữ trẻ tuổi, xinh đẹp.

348. Chiều xuân: Như nói tứ xuân (Xuân tứ).

Nét thu: Nét thu ba, nét sóng thu, tức con mắt.

352. Đá vàng: Do chữ kim thạch. Kim đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái ǵ có tính cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào vàng đá. Đây nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lời đó, như ghi tạc vào vàng đá.

357. Bả: Bản Trương Vĩnh Kư chú Bả là cầm.

Quạt hoa qú: Chiếc quạt bằng lá qú vẽ hoa.

359. Tất giao: Sơn và keo, chỉ t́nh nghĩa gắn bó bền chặt với nhau như hai chất keo và sơn.

362. Lầu trang: Lầu trang điểm, chỉ dùng lầu ở của phụ nữ.

363. Đá biết tuổi vàng: Muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, xấu tốt thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là ḥn đá thử vàng. Qua sự trao đổi, Kim-Kiều đă hiểu biết và yêu nhau, như đá biết rơ tuổi vàng.

365. Sông thương: Hai câu này lấy ư ở bài thơ trong T́nh sử:

" Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang vĩ,
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thuỷ"

Dịch nghĩa:

Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương,
Nhớ nhau mà chẳng thấy nhau,
Cùng uống nước sông Tương.

367. Tuyết trở sương che: ư nói bức tường của nhà Kiều với nhà Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất khiến cho hai người gặp gỡ trao đổi tin tức.

370. Thư hồng rầm lục: Màu đỏ ít đi, màu xanh rậm thêm, tức là mùa xuân sắp qua, mùa hạ sắp tới.

372. Hai đường: Do chữ song đường (xuân đường và huyền đường) chỉ cha mẹ.

375. Nhà lan: Do chữ lan thất.

377. Th́ trân: Những thức ăn quư đương mùa. Thuư Kiều mang sang để tiếp Kim Trọng. Chú ư, "sẵn bày" ở đây không phải là bày biện ra bàn ở nhà Kiều.

382. Lửa hương: Hai chữ này thường dùng để chỉ t́nh duyên vợ chồng.

384. Hoa râm: Hoa cây râm, sắc trắng, ví mái tóc lốm đốm bạc trông như những chẫm hoa râm.

386. TRI âm: Hiểu biết tiếng đàn. Đời Xuân Thu, Bá Nha, một người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ, một người giỏi nghe đàn, đều nổi tiếng, cùng làm bạn với nhau. Tử Kỳ hiểu được tâm hồn bạn trong tiếng đàn, khi Bá Nha gẩy đàn, như núi Thái - Sơn", khi Bá Nha nghĩ đến ḍng chảy (lưu thuỷ), th́ Tử Kỳ khen: "Tiếng đàn cuồn cuộn như sông Giang, sông Hà". Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha đứt dây, đập đàn ra, và than rằng: "Trong thiên hạ không c̣n ai là tri âm (người hiểu biết tiếng đàn của ḿnh) nữa". Về sau, tri âm dùng để chỉ bạn thân, tri kỷ, hoặc bạn t́nh.

389. Núi giả: Chữ Hán là giả sơn, tức là núi non bộ.

391. Động đào: Tức động Đào nguyên.

392. Thiên thai: Tên một núi ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, Tương truyền đời Hán, Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên nữ rồi cùng nhau kết duyên ở đấy.

394. Vạn phúc: Lời chào hỏi chúc mừng khi gặp nhau. Hàn thuyên: lạnh ấm, lời hỏi thăm sức khỏe.

396. Phong nguyệt: Lời thơ trăng gió vui chơi. Non sông: Lấy núi sông mà nguyền ước (sông cạn, núi ṃn, lời thề cũng không thay đổi).

397. Yên: Bàn sách, Bút giá: Cái giá để gác bút. Thi đồng: Cái ống đựng thơ.

398. Đạm thanh: Màu xanh nhạt, chỉ màu bức tranh cây thông của Kim Trọng.

399. Phong sương: Gió và sương. Bức tranh cây thông vẽ rất tự nhiên như có đượm cả phong sương.

402. Phẩm đề: Đề lợi vịnh bức tranh. Thêm hoa: Thêm vẻ đẹp. ư nói bức tranh mới vẽ xong, xin đề mấy vần thơ cho tăng thêm vẻ đẹp.

403. Tay tiên: Bàn tay người đẹp, người tiên.

405. Nhả ngọc phun châu: Tài xuất khẩu thành thơ hay, như nhả ra ngọc, phun ra châu.

406. Nàng Ban: Nàng Ban Chiêu, đời Đông Hán. Nàng học rộng tài cao, được vua Hán vời đến giúp soạn sách.

ả Tạ: Nàng Tạ Đạo Uẩn, đời Tấn, là người thông minh, có học thức.

410. Ngọc bội: Đồ đeo bằng ngọc. Chữ dùng chỉ chung người ta đă hiển đạt và có quan chức.

Kim môn: Tức Kim mă môn nói tắt, tên cửa cung Vị ương của vua nhà Hán (cửa cung có để tượng ngựa đồng nên gọi là Kim mă). Đời Hán Vũ Đế, thường cho những người có văn tài đến đợi ở đây, để chờ nhà vua hỏi han về chính sự. Kiều muốn nói Kim Trọng không là nhà quan cũng là người học cao.

412. Khuôn xanh: Cũng như khuôn thiêng, sự sắp đặt của trời.

414. Tướng sĩ: Thày xem tướng.

415. Anh hoa: Những cái tinh hoa tốt đẹp.

419. Giải cấu: Cuộc gặp gỡ t́nh cờ.

420. Nhân định thắng thiên: ư nói: Người ta cũng có thể làm thay đổi được cả số trời.

421. Giải kết: Giải là cởi, kết là mối buộc. ư nói, chúng ta đă ràng buộc với nhau, nếu có sự chia rẽ th́ quyết liều thân để giữ lời vàng đá.

423. Trung khúc: Những sự uỷ khúc ở trong ḷng, như nói tâm t́nh, tâm sự.

424. Tàng tàng: Say say, ngà ngà.

425. Giang: ư nói ngày ngắn lắm.

428. Song sa: Cửa sổ có che vải sa, cũng như song the, chỉ pḥng ở của Kiều.

430. Hai thận: Cha mẹ, do chữ song thân, tức thân phụ (cha) và thân mẫu (mẹ).

433. Nhặt thưa: Mau và thưa, chỉ ánh trăng. ánh trăng giọi bóng cành lá cây xuống làm cho mặt đất chỗ sáng, chỗ tối.

434. Trướng huỳnh: Trường là cái màn, huỳnh là con đom đóm. Đời Tấn, Xa Dận ham học, nhà nghèo, đêm khôn có đèn, phải bắt con đom đóm đựng vào túi lụa thưa để mà đọc sách. Chỉ pḥng học của Kim Trọng.

437. Tiếng sen: Bước chân của người đẹp. Giấc hoè: Theo sách Nam kha kư: Thuần Vu Phần đời Đường, ngày sinh nhật, uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cay hoè già ở phía nam nhà ông, liền mộng thấy đến một nước gọi là "Đại Hoè An", được vua nước ấy gả công chúa, và cho làm quan Thái thú quận Nam Kha, vinh hiển hơn hai mươi năm. Khi tỉnh dậy, chỉ thấy dưới gốc hoè một tổ kiến lớn, trong có con kiến chúa, mới hiểu đó là nước và vua Hoè An (gốc hoè yên ổn), c̣n Nam kha tức là cành hoè phía nam nhằm thẳng xuống tổ kiến. Do đó, người ta nói "giấc Nam kha" hay "giấc hoè" để chỉ cuộc phú quư hư ảo.

438. Đây nói, Kim Trọng sực tỉnh thấy ánh trăng đưa bóng hoa lê tới gần.

439. Đỉnh Giáp: Đỉnh núi Vu Giáp (hay Vu Sơn). Vua Sở Hoài Vương đi chơi quán Cao Đường, mộng thấy một người đàn bà đẹp, và tự xưng là thần núi Vu Sơn, sớm làm mây, chiều làm mưa. Do tích này, người ta thường dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc ân ái giữa trai gái.

Non thần: núi Thần nữ chỗ ở của nàng tiên gặp vua Sở nói trên.

446. Đài sen: Cái để thắp nên làm h́nh hoa sen.

Song đào: Chỗ cửa sổ có trồng cây đào.

447. Tiên thề: Giấy hoa tiên (giấy viết thư từ có vẽ hoa ghi chép lời thề).

452. Đồng: Đồng tâm, cùng một ḷng với nhau. Người xưa, thường tặng nhau dây lưng gấm, kết thành ṿng hồi văn, ngụ ư thân yêu quấn quưt, gọi là cái "đồng tâm kết".

453. Hà: Ráng mặt trời. Chén hà do chữ hà bôi thứ chén bằng ngọc màu ráng đỏ, đây dùng nói chén quư.

Quỳnh tương: nước ngọt, ví thứ rượu ngon quư.

454. ư nói Kiều với Kim Trọng, ngồi kề nhau, mùi hương quần áo như là hoà lộn với nhau, mà trong binh gương, bóng hai người cũng như lồng đôi với nhau.

457. Chày sương, cầu Lam: đă chú ở câu 266.

458. Sàm sỡ: Lả lơi không đứng đắn.

459. Hồng điệp, xích thằng: xen câu 268 và 238.

460. Tương tri: Biết ḷng nhau, thông cảm nhau.

461. Nguyệt nọ, hoa kia: Chuyện trai gái bất chính.

463. Cầm đài: Cái đài ngồi gẩy đàn của Tư Mă Tương Như, một nhà giỏi đàn đời Tây Hán.

464. Nước non: Do chữ lưu thuỷ, cao sơn (nước chảy, non cao), những tiếng đàn của Bá Nha mà Chung Tử Kỳ nghe và phân biệt được. Đây Kim Trọng đề cao Kiều lên ngang tài với Bá Nha, và tự cho ḿnh là Chung Kỳ.

465. Tiện Kỹ: Nghề mọn, lời nói nhún.

467. Cầm trăng: Tức nguyệt cầm, ta gọi là đàn nguyệt.

468. Tây nâng ngang mày: Thái độ tỏ ư trân trọng.

470. Bận ḷng: khó nghĩ. Lắm thân: tiếng cổ, có nghĩa là "lẵm thay".

471. Vũ, văn: Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ.

472. Cung thương: xem câu 31.

473. Hán sở chiến trường: Băi chiến trường giữa đời Hán, và nước Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Vũ (Sở Bá vương) đánh nhau nhiều trận kịch liệt.

474. Tiếng sắt, tiếng vàng: Tiếng khí giới bằng sắt, bằng kim loại va chạm xô xát nhau.

475. Tư mă phượng cầu: Tư mă Tương Như người đời Hán, có văn tài, ở đất Lâm Cùng, Trác Vương Tôn, có con gái là Văn Quân, người đẹp mà mới goá chồng. Tương Như gẩy khúc đàn "Phượng cầu hoàng" để tỏ t́nh với Văn Quân cảm tiếng đàn, đêm ấy, bỏ nhà trốn theo Tương Như.

477. Kê Khang, Quảng Lăng: Kê Khang, đời Tam quốc, đêm gẩy đàn cầm ở đ́nh Hoa Dương, bỗng có người khách lạ tới dạy cho khúc "Quảng Lăng tán", âm điệu tuyệt hay.

478. Lưu thuỷ, hành vân: Nước chảy, mây bay. ư nói khúc đàn thanh thoát lưu loát.

479. Quá quan: Đi qua cửa ải. Chiêu Quân: Tên chữ của Vương Tường, một cung nữ đời Hán Nguyên đế, bị gả cho chúa Hung nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung nô, Chiêu Quân thường gảy khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi ḷng nhớ nhà, nhớ nước.

482. Tiếng suối: Tiếng đàn nghe đục như tiếng ầm ́ của ḍng suối dội ở lưng chừng núi xuống.

488. Chín khúc: Chỉ các khúc ruột chứ không nhất thiết phải đúng chín khúc ruột.

491. Tiêu tao: Chính nghĩa là tiêu điều, thê hương, đây dùng chỉ tiếng đàn buồn rầu, sầu năo.

492. Dột: ủ dột.

Nao nao: Xao xuyến, đau xót.

495. Lời vàng: Lời khuyên quí giá.

497. Hoa hương: Hoá có hương thơm. Thức hồng: vẻ hồng. Càng đàn, càng thơ, nàng Kiều càng đẹp, t́nh ư đôi bên càng nồng nàn.

501. Làm chơi: Xem vấn đề là thường, không quan trọng.

503. Yêu đào: Cây đào non, lấy chữ ở thơ "Đào yêu", Kinh thi: Đào chi yêu yêu (cây đào non mơn mởn) ví với người con gái trẻ mà đẹp, đă đến tuổi đi lấy chồng.

505. Bố kinh: Bố là vải, kinh là cây kinh, một loại cây mọc thành cụm, hoa màu tía nhạt, cành và thân cứng rắn, thời xưa, những phụ nữ nghèo thường dùng cành nó làm trâm cài tóc.

ở đây, ư Kiều nói: Đă cho vào hang người vợ chính thức như hạng bố kính thời xưa (không phải là nhân t́nh, nhân ngăi).

506. Ṭng phu: Theo chồng, chí cái đạo làm vợ, theo quan niệm Nho giáo xưa.

507. Trên Bộc, trong dâu: Trong băi dâu, trên sông Bộc. Xưa ở nước Vệ, đời Xuân Thu, có tục trai gái hẹn ḥ, tụ hội nhau ở băi dâu trên sông Bộc để hát hổng, đùa bỡn, làm việc dâm đăng.

511. Kỳ ngộ: Cuộc gặp gỡ kỳ lạ, chỉ cuộc nhân duyên tốt đẹp của đôi tài tử giai nhân.

514. Thôi, Trương: Theo Tây sương kư: Thôi Oanh và Trương Cung, tên tự là Quân Thuỵ, đời Đường, là đôi trai tài, gái sắc, đẹp đôi, vừa lứa, đă gặp gỡ và yêu nhau ở chái tây chùa Phổ Cứu, đất Bổ Đông, nhưng v́ đă đi lại ăn nằm với nhau, nên về sau chán nhau mà bỏ nhau.

Đá vàng: Đây chỉ t́nh vợ chồng chung thuỷ, đoan chính.

514. Yến anh: Đây ví với cặp trai gái.

515. Chắp cánh liền cành: Nói khi ăn nằm ân ái với nhau. Theo bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị, vua Đường Huyền tông và Đường quư phi nguyện với nhau trong đêm "thất tịch": Tại thiên nguyện tác ti dực diểu, tại địa nguyên vi liên lí chí (trên trời nguyện làm đôi chim liền cánh, dưới đất nguyện là hai cây liền cành).

517. Mái tây: Do chữ tây sương, tức chái tây chùa Phổ Cứu, nơi Thôi, Trương gặp gỡ nhau.

Hương nguyền: Nén hương để thề nguyền.

519. Gieo thoi: Các sách thường dẫn điển sau đây: Tạ Côn đời Tấn, ghẹo người con gái đang ngồi dệt cửi, bị cô ta cần cái thoi ném vào mặt, gẫy mất hai cái răng (theo Tấn thư).

524. V́: Nể, tiếng cổ, cũng có nghĩa là yêu (yêu v́ Nặng ḷng xót liễu v́ hoa).

525. Bóng tầu: Bóng mái nhà (Tàu: Miếng gỗ dài đặt dọc ở mái hiên, để đỡ lấy mái nhà, gần chỗ giọt tranh).

Vẻ ngân: Vẻ sáng như bạc, chỉ ánh trăng.

528. Sân đào: Sân có trồng cây đào.

530. Gia đồng: Người phục dịch công việc ở trong nhà.

Thúc phụ: Chú ruột.

Từ đường: Từ bỏ nơi nhà ở, tức là chết.

532. Lữ thấn: Chết nhưng mà chưa chôn, quan tài c̣n quàn tạm ở nơi đất khách.

533. Liêu dương: Tên đất, nay thuộc tỉnh Liêu Ninh (Trung Quốc) nơi chủ ruột Kim Trọng chết.

Sơn khê: Núi và khe ng̣i.

534. Xuân đường: Cha, Xuân là một loại cây sống rất lâu. Người sau nhân gọi cha là xuân hay Xuân đường (nhà xuân), có ư mong cha được tuổi thọ như cây ấy.

Hộ tang: Trông coi việc tang.

535. Mảng: Tiếng cổ.

Mảng tin: Mới chợt nghe tin.

536. Đài trang: Do chữ trang đài, nơi trang điểm của phụ nữ.

537. Đinh ninh: cẵn kẽ, đến nơi đến chốn.

539. Đôi hồi: Giăi bày, tṛ chuyện hết lời với nhau.

540. Trao tơ: Chỉ việc kết hôn. Theo sách Khai nguyên Thiên bảo di sự: Trương Gia Trinh, tể tướng nhà Đường, có năm con gái, muốn gả một người cho Quách Nguyên Chấn, đô đốc Lương Châu, người đẹp mà có tài nghệ, bèn bảo năm con đứng sau một bức màn, mỗi người cầm một sợi dây tơ dài, ḍng ra ngoài, và cho Nguyên Chấn tuỳ ư kéo lấy một sợi, trúng sợi nào th́ lấy người cầm sợi ấy. Nguyên Chấn được kéo sợi tơ đỏ, lấy người con thứ ba, rất đẹp.

543. Ba đông: Ba năm để tang.

544. Chầy: C̣n chậm, c̣n lâu ngày.

545. Ǵn vàng giữ ngọc: Giữ thân thể cho được khoẻ mạnh, và cũng ngụ ư giữ ǵn mối t́nh cho được thuỷ chung, trong sạch.

556. Ôm cầm thuyền ai: Ôm đàn sang thuyền của người khác, tức là đi lấy chồng khác.

566. Quyên: Chim đỗ quyên, tức chim quốc. Đây tả cảnh cuối hè, sang thu. Tiếng quyên kêu c̣n ra rả (nhặt) đầu cành và bóng nhạn đă thấy bay loáng thoáng (thưa) ở chân trời.

567. Cữ, tuần: Người xưa thường tính bảy ngày là một cữ, và mười ngày là một tuần.

568. Tương tư: Nguyên nghĩa là ở xa cách mà cùng nhớ nhau, sau người ta mượn để nói sự nhớ nhau của đôi trai gái yêu nhau.

570. Chín hồi: Do chữ cửu hồi, ruột chín lần bị đau quặn lại.

 

Kiu Bán Ḿnh Chuc Cha

 

Tần ngần dạo gót lầu trang,
Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về,


575.. Hàn huyên chưa kịp giăi dề,
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.
Người nách thước, kẻ tay đao;
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Già giang một lăo một trai,


580.. Một dây vô lại buộc hai thâm t́nh.
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,
Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.


585.. Điều đâu bay buộc ai làm ?
Này ai dan dậm, giật giàm bỗng dưng ?
Hỏi ra sau mới biết rằng:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,


590.. Tiếng oan dậy đất, án ngờ ḷa mây.
Hạ từ van lạy suốt ngày,
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn.
Rường cao rút ngược dây oan,
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người.


595.. Mặt trông đau đớn rụng rời,
Oan này c̣n một kêu trời, nhưng xa.
Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua v́ tiền.
Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,


600.. Trong khi ngộ biến ṭng quyền biết sao ?
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên t́nh bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.


605.. Quyết t́nh nàng mới hạ t́nh:
Dẽ cho để thiếp bán ḿnh chuộc cha !
Họ Chung có kẻ lại già,
Cũng trong nha dịch lại là từ tâm.
Thấy nàng hiếu trọng t́nh thâm,


610.. V́ nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay.
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.
Hăy về tạm phó giam ngoài,
Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày.


615.. Thương t́nh con trẻ thơ ngây,
Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ!
Đau ḷng tử biệt sinh ly,
Thân c̣n chẳng tiếc, tiếc ǵ đến duyên !
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,


620.. Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.
Sự ḷng ngỏ với băng nhân,
Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách t́m vào vấn danh.


625.. Hỏi tên rằng: Mă Giám sinh.
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao


630.. Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đă giục nàng kíp ra.
Nỗi ḿnh thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng !


635.. Ngại ngùng giợn gió e sương,
Nh́n hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,


640.. ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng ḷng khách mới tùy cơ dặt d́u.
Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ?


645.. Mối rằng: đáng giá ngh́n vàng,
Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài.
C̣ kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngă giá vàng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đă êm dằm


650.. Hăy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.
Định ngày nạp thái vu qui,
Tiền lưng đă sẵn việc ǵ chẳng xong !
Một lời cậy với Chung công,
Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà.


655.. Thương t́nh con trẻ cha già,
Nh́n nàng ông những máu sa ruột dàu:
Nuôi con những ước về sau,
Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.
Trời làm chi cực bấy trời,


660.. Này ai vu thác cho người hợp tan !
Búa ŕu bao quản thân tàn,
Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già.
Một lần sau trước cũng là,
Thôi th́ mặt khuất chẳng thà ḷng đau !


665.. Theo lời càng chảy ḍng châu,
Liều ḿnh ông rắp gieo đầu tường vôi.
Vội vàng kẻ giữ người coi,
Nhỏ to nàng lại t́m lời khuyên can:
Vẻ chi một mảnh hồng nhan,


670.. Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.
Dâng thư đă thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lư bán ḿnh hay sao ?
Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.


675.. Ḷng tơ dù chẳng dứt t́nh,
Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non.
Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù ră cánh, lá c̣n xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,


680.. Cầm như chẳng đậu những ngày c̣n xanh.
Cũng đừng tính quẩn lo quanh,
Tan nhà là một thiệt ḿnh là hai.
Phải lời ông cũng êm tai,
Nh́n nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang.


685.. Mái ngoài họ Mă vừa sang,
Tờ hoa đă kư, cân vàng mới trao.
Trăng già độc địa làm sao ?
Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên.
Trong tay đă sẵn đồng tiền,


690.. Dầu ḷng đổi trắng thay đen khó ǵ !
Họ Chung ra sức giúp v́,
Lễ tâm đă đặt, tụng kỳ cũng xong.
Việc nhà đă tạm thong dong,
Tinh kỳ giục giă đă mong độ về.


695. Một ḿnh nàng ngọn đèn khuya,
áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu.
Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót ḷng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công tŕnh kể biết mấy mươi.


700. V́ ta khăng khít, cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đă phụ phàng với hoa.
Trời Liêu non nước bao xa.
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi.


705. Biết bao duyên nợ thề bồi.
Kiếp này thôi thế th́ thôi c̣n ǵ.
Tái sinh chưa dứt hương thề.
Làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai.
Nợ t́nh chưa trả cho ai,


710. Khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan.
Nỗi riêng riêng những bàng hoàng,
Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.
Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:


715. Cơ trời dâu bể đa đoan,
Một nhà để chị riêng oan một ḿnh,
Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh ?
Nỗi riêng c̣n mắc mối t́nh chi đây\?
Rằng: Ḷng đương thổn thức đầy,


720. Tơ duyên c̣n vướng mối này chưa xong.
Hở môi ra cũng thẹn thùng,
Để ḷng th́ phụ tấm ḷng với ai.
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.


725. Giữa đường đứt gánh tương tư,
Loan giao chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,


730. Hiếu t́nh khôn lẽ hai bề vẹn hai !
Ngày xuân em hăy c̣n dài,
Xót t́nh máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương ṃn,
Ngậm cười chín suối hăy c̣n thơm lây.


735. Chiếc thoa với bức tờ mây,
Duyên này th́ giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc, ắt ḷng chẳng quên.
Mất người c̣n chút của tin,


740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sao dầu có bao giờ.
Đốt ḷ hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió th́ hay chị về.


745. Hồn c̣n mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền ngh́ trúc mai;
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rẩy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gẫy b́nh tan,


750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm ngh́n gửi lại t́nh quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi,
Đă đành nước chẩy hoa trôi lỡ làng.


755. ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đă phụ chàng từ đây!
Cạn lời hồn ngất máu say,
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.
Xuân Huyên chợt tỉnh giất nồng,


760. Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài.
Kẻ thang người thuốc bời bời,
Mới dằn cơn vựng, chưa phai giọt hồng.
Hỏi: Sao ra sự lạ lùng?
Kiều càng nức nở mở không ra lời.


765. Nỗi nàng Vân mới rỉ tai,
Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây...
Này cha làm lỗi duyên mày,
Thôi th́ nỗi ấy sau này đă em.
V́ ai rụng cải rơi kim,


770. Để con bèo nổi mây ch́m v́ ai.
Lời con dặn lại một hai,
Dẫu ṃn bia đá, dám sai tấc vàng.
Lậy thôi, nàng lại thưa chiềng,
Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi.


775. Sá chi thân phận tôi đ̣i,
Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu.
Xiết bao kể nỗi thảm sầu !
Khắc canh đă giục nam lâu mấy hồi .
Kiệu hoa đâu đă đến ngoài,


780.Quản huyền đâu đă giục người sinh ly .
Đau ḷng kẻ ở người đi,
Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm.
Trời hôm mây kéo tối rầm,
Rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương.


785. Rước nàng về đến trú phường,
Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong.
Ngập ngừng thẹn lục e hồng,
Nghĩ ḷng lại xót xa ḷng đ̣i phen.
Phẩm tiên rơi đến tay hèn,


790.Hoài công nắng giữ mưa ǵn với ai:
Biết thân đến bước lạc loài,
Nhị đào thà bẻ cho người t́nh chung.
V́ ai ngăn đón gió đông,
Thiệt ḷng khi ở đau ḷng khi đi .


795.Trùng phùng dầu họa có khi,
Thân này thôi có c̣n ǵ mà mong.
Đă sinh ra số long đong,
C̣n mang lấy kiếp má hồng được sao ?
Trên yên sẵn có con dao,


800.Giấu cầm nàng đă gói vào chéo khăn:
Pḥng khi nước đă đến chân,
Dao này th́ liệu với thân sau này .
Đêm thu một khắc một chầy,
Bâng khuâng như tỉnh như say một ḿnh.

 

574. Ngoại hương: Làng ngoại, quê ngoại.

 

Giăi dề: Giải bày, chuyện tṛ.

576. Sai nha: Nha lại do quan trên sai phái đi.

577. Thước: Tay thước, một thứ vơ khí cổ, bằng gỗ, dài độ một thước tây, cạnh vuông bốn góc, dùng để đánh người.

Nách thước: Nách cắp tay thước.

Đao: Dao to, mă tấu, thứ vơ khí bằng sắt, lưỡi to.

579. Già: Cái gông. Giang: Khiêng đi, giải đi. ở đây nói cha con viên ngoại và Vương quan bị đóng gông lại.

583. Tế nhuyễn: Nhỏ bé, mềm mại, chỉ chung những đồ vàng ngọc quí gái và trang sức, quần áo dễ mang đi.

585. Bay buộc: ư nói cái tai vạ tự đâu bay đến, buộc vào.

586. Dậm: Một dụng cụ đánh cá.

588. Xưng xuất: Xưng ra, khai ra.

590. Loà mây: Làm mờ cả bầu trời. ư nói: một vụ hết sức oan uổng.

594. Hạ từ: Hạ lời, nói lời thanh minh để kêu cầu van xin.

Lân tuất: Thương xót, thương t́nh. ư cả câu: tụi sai nha cứ phủ tay đánh đập, mặc những lời kêu van của nhà Kiều, chúng chỉ làm điếc làm ngơ.

593. Rường cao: Thanh rường nhà bắc ở trên cao. Dây oan: Dây trói oan uổng. Tụi sai nha trói và treo ngược hai cha con họ Vương lên rường nhà.

599. Cốt nhục: Ruột thịt, chỉ Vương ông và Vương Quan.

600. Ngộ biến ṭng quyền: Gặp cảnh biến phải theo đạo "quyền" (không thể giữ nguyên đạo "kinh" như lúc b́nh thường được). ư nói: Phải tuỳ theo hoàn cảnh mà xử sự cho thích hợp.

601. Hội ngộ: Gặp gỡ gắn bó nhau. Chỉ mối t́nh duyên giữa Kiều với Kim Trọng.

Cù lao: Công ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ.

603. Thệ hải minh sơn: Chỉ non thề bể.

604. Sinh thành: Công ơn cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng nên người.

605. Hạ t́nh: Tỏ bầy ư nghĩ.

606. Rẽ cho: Lời gạt đi ư kiến những người khác để nói lên ư kiến của ḿnh một cách kiên quyết.

607. Lại già: Người gia lại già.

608. Nha dịch: Người làm việc ở nơi gia môn, tức nơi công sở của các phủ huyện.

614. Qui liệu: Thu xếp, lo liệu.

617. Tử biệt sinh ly: Chết vĩnh biệt nhau gọi là "tử biệt", sống mà xa ĺa nhau gọi là "sinh ly". Đó là hai cảnh thương tâm lớn của đời người. Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng làm một thành ngữ, để nói chung cho người gặp cảnh "tử biệt" cũng như người gặp cảnh "sinh ly".

619. Hạt mưa: Chỉ thân phận người con gái

Ca dao:

Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng lầy.

620. Tấc cỏ, ba xuân: Do chữ tnốn thảo, tâm xuân. Thơ tả t́nh đi chơi xa nhớ mẹ của Mạnh Giao đời Đường có câu: Dục tương thốn thảo tâm, báo đáp tam xuân huy (Ai bảo cái ḷng của ngọn cỏ một tấc (ngọn cỏ ngắn) báo đáp được ánh sáng ấm áp của ba tháng xuân). Tấc cỏ: Ví với người con. Ba xuân Ví với công ơn cha mẹ.

621. Băng nhân: Người làm mối.

622. Tin sương: Do chữ sương tín. Tin sương là ngụ ư chỉ tin tức truyền đi.

624. Viễn khách: Khách phương xa.

625. Giám sinh: Sinh viên học tại Quốc tử giám, một thứ trường đại học của triều đ́nh phong kiến, lập ở kinh đô để đào tạo người ra làm quan.

626. Lâm thanh: Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc).

627. Tử tuần: Bốn mươi tuổi (mỗi một tuần là mười tuổi).

630. Nỗi ḿnh: Nỗi riêng của ḿnh, chỉ cuộc t́nh duyên dở dang với Kim Trọng. Nỗi nhà: Nỗi tai vạ của toàn gia đ́nh họ Vương.

635. Rợn gió: Sợ gió.

638. Điệu: Cách điệu, cốt cách.

644. Sinh nghi: Đồ dẫn cưới, tiền dẫn cưới.

645. Ngh́n vàng: Đời hán, một ngh́n vàng tức là một cân vàng, sau dùng để chỉ ngh́n lạng vàng.

646. Rớp nhà: Nhà gặp lúc hoạn nạn.

649. Êm dằm: ư nói sự việc đă lo lót xong xuôi, êm thấm, giống như chiếc thuyền đă đứng êm dằm, khôn c̣n tṛng trành nữa.

650. Canh thiếp: Lá thiếp biên tên, tuổi (nhân trong thiếp có biên tuổi, tức niên canh, nên gọi là canh thiếp). Theo hôn lễ xưa, khi bắt đầu dạm hỏi, nhà trai, nhà gái trao đổi canh thiếp của trai gái để đính ước với nhau.

651. Nạp thái: Chỉ lễ dẫn đồ cưới.

Vu qui: Về nhà chồng, chỉ lệ đón dâu.

654. Khất tử: Đơn xin (Nhà Kiều làm đơn xin tạm tha cho Vương ông).

658. Gieo cầu: Hán Vũ đế kén pḥ mă, cho công chúa ngồi lên lầu, ném quả cầu xuống, ai cướp được th́ làm pḥ mă.

660. Vu thác: Vu là đổ tội cho, thác là đặt điều ra.

669. Một mảnh hồng nhan: Như nói một mụn con gái.

671. Nàng Oanh: Nàng Đề Oanh. Theo Liệt nữ truyện: Để Oanh người đời Hán, khi cha nàng là Thuấn Vu ư, phạm tội, bị hạ ngục ở Tràng An, chờ ngày hành h́nh, Đề Oanh dâng thư lên vua Văn đế, xin nộp ḿnh làm giá hầu cho các nhà quan để chuộc tội cho cha, Văn đế cảm động, xuống chiếu tha cho cha nàng.

672. ả Lư: Nàng Lư Kư. Theo sách Đường dại tùng thư: Lư Kư, đời đường nhà nghèo, tự nguyện bán ḿnh cho người làng đem cúng thần rắn, để lấy tiền nuôi cha mẹ. Về sau nàng chém chết thần rắn, rồi lấy vua Việt vương.

673. Cỗi xuân: Gốc cây xuân, chỉ người cha. Sách xưa nói: Tuổi hạc: Tuổi con chim hạc, như nói tuổi thọ. Sách xưa nói, chim hạc sống lâu một ngh́n năm.

675. Ḷng tơ: Tấm ḷng thương con vương vấn không dứt.

676. Gió mưa: Chỉ những tai biến xảy đến.

Nước non: Chỉ cơ nghiệp nhà (nước non cũng như giang sơn).

678. Hoa dù ră cánh: Tức cây c̣n xanh lá, nói Vương ông được an toàn.

679. Cũng vầy: cũng vậy, cũng thế thôi.

680. Đậu: Một cái hoa kết được thành quả, hay một cái quả giữ được đến lúc chín, không bị nửa chừng rụng đi, th́ người ta gọi là cái hoa đậu, cái quả đậu. Cả câu: ư nói cũng xem như là đă chết ngay từ lúc c̣n nhỏ tuổi.

691. Giúp v́: Giúp đỡ.

692. Lễ tâm: Lễ vật của dân sự "thành tâm" đem đút lót cho bọn quan lại. Tụng kỳ: Kỳ xử kiện, tức phiên xử án.

694. Tinh kỳ: Người ta thường dùng chữ tinh kỳ để chỉ cái ngày thành hôn, v́ theo hôn lễ xưa, người ta đón dâu vào buổi tối.

697. Dầu: Cũng như nghĩa đành (dầu ḷng, đành ḷng).

698. Một lời: Một lời thề nguyền. ư Kiều nói: Số phận ra sao cũng đành, nhưng chỉ đau ḷng là trót đeo đẳng lời thề với Kim Trọng.

703. Trời liêu: Liêu dương.

707. Tái sinh: Một kiếp sống nữa, kiếp sau cũng như nói lai sinh

Hương thề: Mảnh hương thề nguyền. Xem chú thích 517.

708. Trâu ngựa: Theo thuyết luân hồi nhà Phật: Người nào kiếp này mắc nợ ai mà chưa trả được, th́ kiếp sau phải hoá làm thân trâu ngựa nhà người ta để đền trả cho xong.

Ngh́: Tức là chữ "nghĩa" được đọc chệch ra.

Trúc mai: T́nh nghĩa bền chặt thân thiết như vậy cây trúc, cây mai thường được trồng gần nhau.

710. Khối t́nh: T́nh sử: Xưa có một cô gái yêu một người lái buôn. Người lái buôn đi măi chưa về, cô ta ốm tương tư mà chết. Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không cháy, đập không vỡ. Sau người lái buôn trở về, thương khóc, nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết.

Tuyền đài: Nơi ở dưới suối vàng, tức nơi ở của người chết.

711. Bàn hoàn: ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn măi không dứt.

713. Giấc xuân: Giấc ngủ ngon lành.

715. Cơ trời: Tức thiên cơ, máy trời.

Dâu bể: Cũng như "bể dâu".

Đa đoan: Nhiều mối nhiều việc.

717. Nhẫn: Tiếng cổ, ngồi nhẫn là ngồi măi suốt đêm.

726. Kéo loan: do chữ loan giao, tức thứ keo chế bằng máu chim loan. Tương truyền người xưa thường dùng để nối dây đàn và dây cung.

Mối tơ thừa: Ví dây tơ t́nh với dây đàn, dây tơ t́nh bị đứt.

723. Lời non nước: Lời thề nguyền chỉ non thề bể.

734. Chín suối: Do chữ cửu tuyền, chỉ nơi suối vàng.

735. Tờ mây: Tờ giấy vẽ mây, tức tờ giấy ghi lời thề nguyền của Kim, Kiều.

740. Mảnh hương nguyền: Những manhr gỗ thơm đă đốt dở trong cuộc thề nguyền của Kim, Kiều. Thời xưa, khi thề nguyền với nhau, người ta thường đốt hương.

746. Bồ liễu: Một loại cây ưa mọc gần nước. Cây bồ liễu rụng lá sớm hơn hết các loài cây, v́ cái thể chất yếu đuối đó nên trong văn cổ thường dùng để ví với người phụ nữ.

747. Dạ dài: Đài đêm tối, nghĩa bóng là cơi chết.

749. Trâm gẫy b́nh tan: Thơ Bạch Cư Dị, đời Đường: B́nh truỵ trâm chiết thị hà như, tự thiếp kim triêu dữ quân biệt. (Cái cảnh b́nh rơi trâm găy là thế nào? nó giống như cảnh biệt ly của thiếp với chàng buổi sáng nay). Đây dùng chỉ cuộc t́nh duyên tan vỡ.

751. T́nh quân: Người t́nh, cũng như t́nh lang.

753. Phận bạc: Chính nghĩa là phận mỏng, tức bạc mệnh.

754. Nước chảy hoa trôi: Hoa rụng xuống, nước trôi đi, nguyên chỉ cảnh xuân tàn, sau thường mượn để nói sự tàn tạ của đời người.

759. Xuân huyên: Xuân đường, huyên đường, tức cha mẹ.

762. Vựng: Cơn ngất, bất tỉnh nhân sự.

Giọt hồng: Giọt nước mắt có máu, giọt lệ thảm.

769. Nói t́nh duyên nửa chừng bị chia ĺa, tan vỡ.

772. Ṃn bia đá: Chỉ một khoảng thời gian rất lâu.

Tấc vàng: Tấc ḷng bền vững như vàng.

773. Chiềng: Tŕnh, tiếng cổ.

775. Tôi đ̣i: Kiều bán ḿnh làm vợ lẽ nàng tự xem như kẻ ăn người ở.

Mấy hồi: Mấy hồi trống tan canh.

780. Quân huyền: Chính nghĩa là ống trúc và dây đàn, thường dùng chỉ đàn. Đây nói họ Mă đưa các đồ âm nhạc đến đón Kiều.

782. Đại ư cả câu: Giọt lệ rơi xuống, có thể thấm qua cả đá, tơ ruột rút ra, có thể làm chết rũ cả con tằm.

785. Trú phường: Chỗ phố trọ, nhà trọ.

786. Xuân khoá: Chữ xuân ở đây không phải là mùa xuân. Chú ư: lúc Mă Giám sinh đón Kiều là mùa thu: Đêm thu một khắc một chầy.

787. Lục hồng: Màu lá xanh, màu hoa đỏ thường dùng để chỉ sắc đẹp của phụ nữ.

788. Nghĩ ḷng: Nghĩ riêng trong ḷng.

Đ̣i phen: Nhiều phen, nhiều lúc.

789. Phẩm tiên: Của trên cơi tiên. Hèn hạ, tục tằn.

790. Nắng giữ mưa ǵn: ư nói giữ ǵn trinh tiết một cách thận trọng.

792. Nhị đào: Hoa đào c̣n phong nhị ví với người con gái c̣n trinh.

793. Gió đông: Tiếp ư chữ nhị đào ở trên, ư nói: Không để cho người t́nh chung bẻ nhị đào, giống như ngăn đón gió đông không cho đến với nhị đào vậy.

795. Trùng phùng: Gặp gỡ lần thứ hai, ư nói đến sau này lại gặp Kim Trọng.

799. Yên: Cái án, một loại bàn cổ, chân cao, bề mặt hẹp và dài.

 

 

Kiu Rơi Vào Tay Tú Bà và Mă Giám Sinh

 

805. Chẳng ngờ gă Mă Giám Sinh,
Vẫn là một đứa phong t́nh đă quen.
Quá chơi lại gặp hồi đen,
Quen mùi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa .
Lầu xanh có mụ Tú Bà,


810. Làng chơi đă trở về già hết duyên.
T́nh cờ chẳng hẹn mà nên,
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường.
Chung lưng mở một ngôi hàng,
Quanh năm buôn phấn bán hương đă lề.


815. Dạo t́m khắp chợ th́ quê,
Giả danh hầu hạ dạy nghề ăn chơi .
Rủi may âu cũng tại trời,
Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên.
Xót nàng chút phận thuyền quyên,


820. Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn.
Mẹo lừa đă mắc vào khuôn,
Sính nghi rẻ giá nghênh hôn sẵn ngày .
Mừng thầm: Cờ đă đến tay !
Càng nh́n vẻ ngọc càng say khúc vàng.


825. Đă nên quốc sắc thiên hương,
Một cười này hẳn ngh́n vàng chẳng ngoa .
Về đây nước trước bẻ hoa,
Vương tôn quư khách ắt là đua nhau .
Hẳn ba trăm lạng kém đâu,


830. Cũng đà vừa vốn c̣n sau th́ lời,
Miếng ngon kề dến tận nơi,
Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham.
đào tiên đă bén tay phàm,
Th́ vin cành quít cho cam sự đời !


835. Dưới trần mấy mặt làng chơi,
Chơi hoa đă dễ mấy người biết hoa .
Nước vỏ lựu máu mào gà,
Mượn màu chiêu tập lại là c̣n nguyên.
Mập mờ đánh lận con đen,


840. Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi ?
Mụ già hoặc có điều ǵ,
Liều công mất một buổi quỳ mà thôi .
Vả đây đường xá xa xôi,
Mà ta bất động nữa người sinh nghi .

845. Tiếc thay một đóa trà mi,
Con ong đă tỏ đường đi lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương ǵ đến ngọc tiếc ǵ đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,

850. Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ .
Giọt riêng tầm tă tuôn mưa,
Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi ḿnh:
Tuồng chi là giống hôi tanh,
Thân ngh́n vàng để ô danh má hồng.

855. Thôi c̣n chi nữa mà mong?
Đời người thôi thế là xong một đời .
Giận duyên tủi phận bời bời,
Cầm dao nàng đă toan bài quyên sinh.
Nghĩ đi nghĩ lại một ḿnh:

860. Một ḿnh th́ chớ hai t́nh th́ sao ?
Sao dầu sinh sự thế nào,
Truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân.
Nỗi ḿnh âu cũng giăn dần,
Kíp chầy thôi cũng một lần mà thôi .

865. Những là đo đắn ngược xuôi,
Tiếng gà nghe đă gáy sôi mái tường.
Lầu mai vừa rúc c̣i sương,
Mă Sinh giục giă vội vàng ra đi .
Đoạn trường thay lúc phân kỳ !

870. Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh.
Bề ngoài mười dặm trường đ́nh,
Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo .
Ngoài th́ chủ khách dập d́u,
Một nhà huyên với một Kiều ở trong.

875. Nh́n càng lă chă giọt hồng,
Rỉ tai nàng mới giăi ḷng thấp cao:
Hổ sinh ra phận thơ đào,
Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong?
Lỡ làng nước đục bụi trong,

880. Trăm năm để một tấm ḷng từ đây .
Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già !
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dùng dắng khi ra vội vàng.

885. Khi ăn khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.
Khác màu kẻ quư người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như h́nh con buôn.
Thôi con c̣n nói chi con?

890. Sống nhờ đất khách thác chôn quê người !
Vương bà nghe bấy nhiêu lời,
Tiếng oan đă muốn vạch trời kêu lên.
Vài tuần chưa cạn chén khuyên.
Mái ngoài nghỉ đă giục liền ruổi xe .

895. Xót con ḷng nặng tŕ tŕ,
Trước yên ông đă nằn ń thấp cao:
Chút thân yếu liễu tơ đào,
Rớp nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi .
Từ đây góc bể bên trời,

900. Nắng mưa thui thủi quê người một thân.
Ngh́n tầm nhờ bóng tùng quân,
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng.
Cạn lời khách mới thưa rằng:
Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao .

905. Mai sau dầu dến thế nào,
Ḱa gương nhật nguyệt nọ dao quỉ thần !
Đùng dùng gió giục mây vần,
Một xe trong cơi hồng trần như bay .
Trông vời gạt lệ chia tay,

910. Góc trời thăm thẳm đêm ngày đăm đăm.
Nàng th́ dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây .
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một người .

915. Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
Rừng thu từng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm ḷng thần hôn.
Những là lạ nước lạ non,

920. Lâm Truy vừa một tháng tṛn tới nơi .
Xe châu dừng bánh cửa ngoài,
Rèm trong đă thấy một người bước ra .
Thoắt trông nhờn nhợt màu da,
ăn ǵ cao lớn đẫy đà làm sao !

925. Trước xe lơi lả han chào,
Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi .
Bên th́ mấy ả mày ngài,
Bên th́ ngồi bốn nǎm người làng chơi .
Giữa th́ hương án hẳn hoi,

930. Trên treo một tượng trắng đôi lông mày .
Lầu xanh quen lối xưa nay,
Nghề này th́ lấy ông này tiên sư,
Hương hôm hoa sớm phụng thờ.
Cô nào xấu vía có thưa mối hàng,

935. Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi !
Kiều c̣n ngơ ngẩn biết ǵ,

940. Cứ lời lạy xuống mụ th́ khấn ngay:
Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm Hàn thực ngày ngày Nguyên tiêu .
Muôn ngh́n người thấy cũng yêu,
Xôn xao oanh yến rập ŕu trúc mai .

945. Tin nhạn vẩn lá thư bài,
Đưa người cửa trước rước người cửa sau .
Lạ tai nghe chửa biết đâu,
Xem t́nh ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,

950. Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.
Dạy rằng: Con lạy mẹ đây,
Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia.
Nàng rằng: Phải bước lưu ly,
Phận hèn vâng đă cam bề tiểu tinh.

955. Điều đâu lấy yến làm oanh,
Ngây thơ chẳng biết là danh phận ǵ?
Đủ điều nạp thái vu qui,
Đă khi chung chạ lại khi đứng ngồi.
Giờ ra thay mặt đổi ngôi,

960. Dám xin gửi lại một lời cho minh.
Mụ nghe nàng nói hay t́nh,
Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên:
Này này sự đă quả nhiên,
Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi.

965. Bảo rằng đi dạo lấy người,
Đem về rước khách kiếm lời mà ǎn.
Tuồng vô nghĩa ở bất nhân,
Buồn ḿnh trước đă tần mần thử chơi.
Màu hồ đă mất đi rồi,

970. Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!
Con kia đă bán cho ta,
Nhập ra phải cứ phép nhà tao đây.
Lăo kia có giở bài bây,
Chẳng vǎng vào mặt mà mày lại nghe.

975. Cớ sao chịu tốt một bề,
Gái tơ mà đă ngứa nghề sớm sao?
Phải làm cho biết phép tao!
Chập b́ tiên rắp sấn vào ra tay.
Nàng rằng: Trời thẳm đất dày!

980. Thân này đă bỏ những ngày ra đi.
Thôi th́ thôi có tiếc ǵ!
Sẵn dao tay áo tức th́ giở ra.
Sợ gan nát ngọc liều hoa!
Mụ c̣n trông mặt nàng đà quá tay.

985. Thương ôi tài sắc bậc này,
Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần.
Nỗi oan vỡ lở xa gần,
Trong nhà người chật một lần như nêm.
Nàng th́ bằn bặt giấc tiên,

990. Mụ th́ cầm cập mặt nh́n hồn bay.
Vực nàng vào chốn hiên tây,
Cắt người coi sóc chạy thầy thuốc thang.
Nào hay chưa hết trần duyên,
Trong mê dường đă đứng bên một nàng.

995. Rỉ rằng: Nhân quả dở dang,
Đă toan trốn nợ đoạn trường được sao?
Số c̣n nặng nợ má đào,
Người dầu muốn quyết trời nào đă cho.
Hăy xin hết kiếp liễu bồ,

1000. Sông Tiền đường sẽ hẹn ḥ về sau.
Thuốc thang suốt một ngày thâu,
Giấc mê nghe đă dàu dàu vừa tan.
Tú bà chực sẵn bên màn,
Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần:

1005. Một người dễ có mấy thân!
Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân c̣n dài.
Cũng là lỡ một lầm hai,
Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây!
Lỡ chưn trót đă vào đây,

1010. Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non.
Người c̣n th́ của hăy c̣n,
T́m nơi xứng đáng là con cái nhà.
Làm chi tội báo oán gia,
Thiệt ḿnh mà hại đến ta hay ǵ\?

1015. Kề tai mấy mỗi nằn ń,
Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ṛi.
Vả suy thần mộng mấy lời,
Túc nhân âu cũng có trời ở trong.
Kiếp này nợ trả chưa xong,

1020. Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau!
Lặng nghe, thấm thía gót đầu,
Thưa rằng: Ai có muốn đâu thế này?
được như lời, thế là may,
Hẳn rằng mai có như rày cho chǎng!

1025. Sợ khi ong bướm đăi đằng,
Đến điều sống đục, sao bằng thác trong!
Mụ rằng: Con hăy thong dong,
Phải điều ḷng lại dối ḷng mà chơi!
Mai sau ở chẳng như lời,

1030. Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.
Thấy lời quyết đoán hẳn hoi,
Đành ḷng, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần.
Trước lầu Ngưng bích khóa xuân,
Vẻ non xa, tấm trǎng gần, ở chung.

1035. Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa t́nh, nửa cảnh như chia tấm ḷng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

1040. Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ ?

1045. Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đă vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?
Buồn trông ngọn nước mới sa,

1050. Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồị

1055. Chung quanh những nước non người,
Đau ḷng lưu lạc, nên vài bốn câu .

 

806. Phong t́nh: Ăn chơi phóng đăng bất chính.

809. Lầu xanh: Do chữ thanh lâu: Cái lầu sơn mầu xanh. Chữ thanh lâu nguyên chỉ lầu ở của phái quyền quí hay vua chúa, hoặc chỉ lầu ở của mỹ nhân. Về sau thanh lâu mới có nghĩa là nhà hát, nhà điếm.

810. Làng chơi: thuộc loại gái điếm gái làng chơi.

812. Mạt cưa mướp đắng: Chuyện cổ tích: "Một người lấy mạt cưa làm cám, đợi lúc nhá nhem tối, đem ra chợ bán, lại gặp một người đem mướp đắng giả làm dưa chuột ra bán. Hai người bán lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm". Đây nói Mă Giám sinh và Tú bà cùng là phường bịp.

814. Buôn phấn bán hương: Mua những con gái ở các nơi về làm gái điếm. Phấn và hương là hai thứ nữ giới dùng để trang điểm, nên mượn để chỉ chung nữ giới.

Đă lề: ư nói đă thành nề nếp, đă quen nghề.

815. Chợ: Kẻ chợ, tức nơi thành thị, đô hội. Khắp chợ th́ quê: Lối nói cổ, có nghĩa là: khắp chợ cùng quê, khắp vùng kẻ chợ đến miền thôn quê.

816. Giả danh hầu hạ: Mượn tiếng là t́m nàng hầu vợ lẽ để về hầu hạ.

Dạy nghề ǎn chơi: Dạy nghề làm gái điếm kiếm tiền.

819. Thuyền quyên: Nguyên nghĩa là óng ả xinh tươi để chỉ người phụ nữ đẹp.

821. Mẹo lừa: mưu mẹo lừa dối.

Khuôn: Như nói vành, đă mắc vào vành không ra được nữa.

822. Nghinh hôn: Đón dâu.

823. Cờ đến tay: Đây mượn câu tục ngữ: Cờ đến tay ai, người nấy phất, để nói ư nghĩ của Mă: Kiều đă vào tay ḿnh rồi muốn làm ǵ th́ làm.

824. Vẻ ngọc: Vẻ mặt đẹp như ngọc.

Khúc vàng: Khúc ḷng.

826. Câu này do chữ nhất tiểu thiên kim: Một nụ cười của người đẹp đáng giá ngh́n vàng.

827. Bẻ hoa: Tức phá trinh tiết của Kiều.

828. Vương tôn: Chỉ con gái các nhà quí phái.

834. Câu này ư nói: Đào tiên đă tới tay,th́ vin cành bẻ phắt đi cho thoả sự đời (tức là làm ngay cái việc "nước trước bẻ hoa" ở trên).

835. Dưới trần: Như nói trong cơi đời, ở đời. Mấy mặt: Mấy người.

836. Biết hoa: Biết giá trị của hoa. ư nói: Bọn làng chơi đă dễ mấy người phân biệt được gái tân với gái mất tân.

837. Nước vỏ lựu, mái mào gà: Theo sách Bắc lư chi: Gái thanh lâu tiếp khách xong, lại lấy nước vở lựu máu mào gà sống để rửa, giả làm gái c̣n tân để đánh lừa khách chơi.

838. Chiêu tập: Dùng cách sửa chữa làm như c̣n nguyên vẹn.

839. Con đen: Những người c̣n trẻ tuổi mà khờ dại, đây chỉ những khách chơi không sành sỏi.

845. Trà mi: Một thứ hoa nở về mùa xuân đầu hạ, hoa mầu vàng nhạt rất đẹp.

848. Ngọc, hương: Ngọc đẹp, hương thơm, ví với người đẹp.

850. Đuốc hoa: Do chữ hoa chúc: đuốc hoa, nến hoa.

858. Quyên sinh: Bỏ đời sống, tức tự tử.

860. Hai t́nh: Chỉ cha mẹ. ư nói: Một ḿnh th́ tự tử chẳng sao, nhưng c̣n cha mẹ th́ làm thế nào?

862. Truy nguyên: T́m đến cǎn nguyên, gốc rễ của sự việc.

863. Giăn: Nới ra. Nỗi ḷng của Kiều lúc trước như bị bóp nghẹt, nay nghĩ đi nghĩ lại, thấy nới dần ra.

864. Một lần: Một lần chết. Kiều nghĩ: chóng hay chậm, cũng một lần chết, nếu bây giờ nàng chết đi tất liên luỵ đến cha mẹ.

866. Gáy sôi:: Gáy ầm ỹ, dồn dập. Chữ "sôi" có hàm ư giục giă.

867. Lầu mai: Cḥi canh về sáng.

C̣i sương: Tiếng tù và thổi lúc sớm tinh sương.

869. Đoạn trường: Đứt ruột có nghĩa đau đớn quá (như dứt từng khúc ruột). Phân kỳ: Chia đường, chia ĺa mỗi người mỗi ngả như nói "chia tay".

870. Vó câu: Vó ngựa (Câu: ngựa non đang sức lớn). Những chữ "khấp khểnh", "ghập ghềnh" vừa tả con đường đi gồ ghề khó khǎn, vừa ngụ ư thân thế Kiều đă long đong vất vả ngay từ lúc bước chân ra đi...

871. Trường đ́nh: Đời Tần, Hán, người ta chia đường ra từng cung, cứ nǎm dặm là một cung ngắn, có một cái quán, gọi là "đoản đinh" (quán ngắn) mười dặm là một cung dài, lại có một cái quán nữa gọi là "trường đ́nh" (quán dài). Tục cổ, chủ thường tiễn khách ra khỏi mười dặm đường làm tiệc tiến hành ở trường đ́nh rồi mới trở về.

873. Chủ khách: Chỉ Vương ông Mă Giám sinh.

877. Thơ đào: Đây có nghĩa là con gái ít tuổi, ngây thơ.

884. Dùng dắng: Dùng dằng, do dự, khi Mă vào trong pḥng Kiều th́ do dự mà khi ở pḥng ra th́ vội vàng.

886. Thầy tớ: Chỉ Mă và bọn tôi tớ Mă.

893. Tuần: Tuần rượu, mỗi chén rượu đôi bên cùng uống cạn là một tuần.

Chén khuyên: Chén khuyên mời, đây là chén rượu tiến.

894. Nghỉ: Nó, hắn, y, thổ âm Nghệ Tĩnh đây chỉ Mă.

986.Trước yên: Trước yên ngựa của Mă.

897. Yếu liễu thơ đào: ư nói Kiều c̣n yếu ớt thơ dại, ví như cây liễu yếu cây đào non.

899. Góc bể chân trời: Do chữ hải giác thiên nhai: Góc biển cả, chỗ cùng nận bầu trời ư nói xa xôi hết sức.

901. Tầm: Một đơn vị đo lường cổ của Trung Quốc, dài tám thước.

Ngh́n tầm: 8000 thước, nghĩa bóng: cao lắm!

Tùng quân: Tùng là cây thông, một thứ cây cao lớn, lthân thẳng và cứng cáp, mùa đông lá cây vẫn xanh tươi, trong vǎn cổ, thường dùng để tượng trưng cho người trượng phu. Quân là cây trúc, dóng thẳng đốt ngang, thân rỗng mà không cong queo, thường dùng để tượng trưng cho người quân tử.

902. Tuyết sương che chở: Tức che chở cho khỏi tuyết sương.

Cát đằng: Dây sắn, một loại day phải leo bám vào những cây to, người ta thường nói "cát đằng" "cát luỹ" hay "sắn b́m" để chỉ người vợ thiếp.

904. Nhiệm trao: ư nói số trời mầu nhiệm đă buộc sợi "xích thằng".

906. Gương nhật nguyệt: Gương mặt trời, mặt trǎng. Chữ "gương" hàm ư soi tỏ tội lỗi. Dao quỷ thần: Gươm dao của quỷ thần, hàm ư trừng phạt, ư Mă nói: nếu sau này ǎn ở không thuỷ chung, sẽ có trời soi tỏ tội lỗi và bị quỷ thần trừng phạt.

907. Gió giục mây vần: Tả xe Kiều đi mau lẹ, vội vă.

909. Trông vời: Tức trông với theo một cái ǵ đó đă đi xa.

9912. Bạc phau: Trắng phau, trắng xoá.

Cầu giá: Váng sương bám trên mặt cầu buổi sớm mai.

Ngàn mây: Những đám mây ở những nơi rừng núi. Câu này tả cảnh cuối thu, bắt đầu sang đông.

913. Hơi may: Hơi gió heo may.

915. Ngất tạnh: Bầu trời cao ngất mà tạnh ráo.

Mù khơi: Mù mịt xa khơi.

916. Lời non sông: Kiều thấy trǎng mà nhớ đến cái "vầng trǎng" đêm nào đă chứng kiến cuộc thề nguyện của hai người.

917. Từng biếc xen hồng: Rừng cây mùa thu có những lá úa màu đỏ xen giữa từng lá mùa xanh.

918. Thần hôn: Sớm hôm, chỉ sự sớm hôm chǎm sóc thǎm hỏi cha mẹ.

920. Lâm tri: Tên huyện, thuộc tỉnh Sơn Đông.

921. Xe châu: Xe có rèm hạt châu, thứ xe phụ nữ ngồi.

927. Mày ngài: Tức mấy ả gái điếm.

930. Tượng: Bức tranh vẽ. Tượng trắng đôi lông mày tức tranh thần "Bạch mi".

932. Tiên sư: Tổ sư, ông tổ sáng lập ra một nghề. Chữ dùng hàm ư mỉa mai.

937. Đổi hoa: Như nói thải hoa, tức như lấy hoa mới để thờ, thải hoa cũ lót xuống dưới chiếu để nằm.

938. Tứ vi: Bốn phía xung quanh.

942. Hàn thực: Ǎn lạnh, ǎn đồ nguội.

Giới Tử Thôi giúp Tấn Vǎn Công khôi phục lại ngôi vua, nhưng lúc ân thưởng triều thần. Vǎn Công lại quên mất Tử Thôi. Tử Thôi bất b́nh trốn vào núi ở ẩn. Đến lúc Vǎn Công nghĩ lại, muốn vời Tử Thôi, nhưng Tử Thôi quyết chí ở ẩn, Vǎn Công ra lệnh đốt rừng Tử Thôi quyết tâm chịu chết cháy ở trong núi. Vǎn Công hối hận vô cùng ra lệnh hàng nǎm đúng ngày Tử Thôi chết, cấm không được đốt lửa. Do đó mà có tục hàn thực, cứ trước...tiết thanh minh hai ngày (có sách chép một ngày) người ta cấm đốt lửa, ǎn đồ nguội, và tổ chức nhiều cuộc vui: đá cầu, đánh đu, chọi gà, kết xe hoa đi dong chơi.

Nguyên tiêu: Đêm tiết thượng nguyên, tức đêm ngày rằm tháng riêng đầu nǎm. Đây Tú bà khấn thần phù hộ cho cửa hàng lầu xanh của mụ, ngày lại đêm, lúc nào khách chơi cũng ra vào đông đúc, tấp nập như những ngày hội hàn thực nguyên tiêu.

945. Tin nhạn: Tô Vũ, người đời Hán, đi sứ sang Hung nô không chịu khuất phục, bị chúa Hưng nô đầy lên Bắc Hải chǎn dê, nhà Hán hỏi, th́ bảo là chết rồi, sau sứ Hán phải nói thác là vua Hán sǎn được con chim nhạn ở vườn thượng lâm chân nó có buộc một bức thư lụa của Tồ Vũ gửi về, khi ấy Hưng nô mới chịu trả lại Tô Vũ cho nhà Hán. Do đó, người ta thường nói "tin nhạn" để chỉ tin thư. ở đây, tác giả dùng như nghĩa "tin tức" đơn thuần.

949. Hương hoa gia đường: Bốn chữ này nguyên chỉ nhà hay bàn thờ cúng gia tiên, đây tác giả dùng chỉ bàn thờ thần Bạch mi.

952. Cậu mày: Tức cha mày, chỉ Mă Giám sinh, Tú Bà bắt Kiều lạy nhận mụ là mẹ nuôi. Mă Giám sinh là cha nuôi.

954. Tiểu tinh: Sao nhỏ, chỉ vợ lẽ.

962. Tam banh: Theo sách Đạo giáo "Trong người ta có ba thần thi: Thượng Thi, tên Bành Chất, ở bụng; Hạ Thi, tên Bành Kiệu, ở chân, thường làm hại người". Do đó, người ta cho rằng: những sự hung ác giận dữ của người là do thần "Tam thi" hay"Tam Bành" làm ra, và thường dùng chữ tam bành để chỉ cơn tức giận.

964. Min: Ta, tao (tiếng cổ).

978. B́ tiên: Cái roi bằng da.

986. Phong trần: Cơi đời gió bụi. ư nói: Một nhát dao oan nghiệt cắt đứt quan hệ với cuộc đời phong trần tức là chết.

993. Trần duyên: Nhân duyên cơi trần, cơi đời.

1000. Tiền đường: Tên một con sông chảy qua gần Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

1006. Hoa xuân đương nhuỵ: Hoa xuân đương lên nhuỵ, tức mới nở. ư nói Kiều c̣n trẻ trung.

1008. Đá vàng: Đây chỉ ḷng kiên trinh của phụ nữ.

1010. Khoá buồng xuân: Khoá kín vẻ xuân trong buồng, như nói cấm cung.

Đợi ngày đào non: Đợi ngày lấy chồng.

1013. Tội báo: Như nói là ác báo.

Oan gia: Kẻ oán thù, cừu thù.

1016. Thị phi rạch ṛi: Lẽ phải, lẽ trái phân minh. Đại ư: Kiều nghe lời Tú Bà nói cũng có lư.

1017. Thần mộng: Lời báo mộng của quỉ thần (tức Đạm Tiên).

1018. Tức nhân: Nhân duyên có sẵn từ trước, như nói duyên số tiền định.

1025. Đăi đằng: Tiếng cổ, nghĩa là giăi bày.

Ca dao:

Cá buồn cá lội tung tǎng
Em buồn em biết dăi dằng cùng ai.

ở đây đăi đằng có nghĩa là điều ra tiếng vào của những người khách chơi.

1027. Thong dong: ở đây có nghĩa là khoan tâm, thư tâm.

1033. Ngưng bích: Tên cái lầu mà Tú Bà dành cho Kiều ở.

Ngưng Bích: Nghĩa là đọng (tụ) lại màu biếc.

1036. Bụi hồng: Đây chỉ những đám bụi bốc lên ở trên đường.

1037. Bẽ bàng: Chán ngán, buồn tủi.

1039. Chén đồng: Chén đồng tâm, tức chén rượu thề nguyền đồng tâm với nhau.

1042. Tấm son: Tấm ḷng son, đây chỉ tấm ḷng thuỷ chung.

1044. Quạt hồng, ấm lạnh: Quạt khi nồng, ấp khi lạnh, do chữ đông ôn hạ sảnh ở Kinh Lễ.

1045. Sân Lai: Sân Lăo Lai. Theo sách Cao Sĩ truyện: "Lăo Lai Tử, người nước Sở, đời Xuân Thu, tuổi đă ngoài bảy mươi, mà c̣n cha mẹ già, ông thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, ra múa ở trước sân, rồi giả cách ngă, khóc, như trẻ con, để làm cho cha mẹ vui". Đây nói bóng sân nhà cho mẹ, tức nhà ḿnh.

1046. Gốc tử: Gốc cây tử (loài cây thị). Đây dùng chỉ cha mẹ, "gốc tử đă vừa người ôm" nói bóng cha mẹ đă già rồi.

1053. Ghềnh: Vực sâu, vũng biển.

 

Kiu Mc La S Khanh

 

Ngậm ngùi rủ bước rèm châu,
Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần.
Một chàng vừa trạc thanh xuân,


1060. H́nh dong chải chuốt, áo khǎn dịu dàng.
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
Bóng Nga thấp thoáng dưới mành,
Trông nàng, chàng cũng ra t́nh đeo đai .


1065. Than ôi ! sắc nước hương trời,
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây ?
Giá đành trong nguyệt trên mây,
Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa ?
Tức gan riêng giận trời già,


1070. Ḷng này ai tỏ cho ta, hỡi ḷng?
Thuyền quyên ví biết anh hùng,
Ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi !
Song thu đă khép cánh ngoài,
Tai c̣n đồng vọng mấy lời sắt đanh.


1075. Nghĩ người thôi lại nghĩ ḿnh,
Cám ḷng chua xót, nhạt t́nh chơ vơ .
Những là lần lữa nắng mưa,
Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi ?
Đánh liều nhắn một hai lời,

 

1080. Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.
Mảnh tiên kể hết xa gần,
Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài .
Tan sương vừa rạng ngày mai,
Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang.


1085. Trời tây lăng đăng bóng vàng,
Phúc thư đă thấy tin chàng đến nơi .
Mở xem một bức tiên mai,
Rành rành tích việt có hai chữ đề .
Lấy trong ư tứ mà suy:


1090. Ngày hai mươi mốt, tuất th́ phải chǎng?
Chim hôm thoi thót về rừng,
Đóa trà mi đă ngậm trǎng nửa vành.
Tường đông lay động bóng cành,
Rẽ song, đă thấy Sở Khanh lẻn vào .

1095. Sượng sùng đánh dạn ra chào,
Lạy thôi, nàng mới rỉ tai ân cần.
Rằng: Tôi bèo bọt chút thân,
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.
Dám nhờ cốt nhục tử sinh,


1100. C̣n nhiều kết cỏ ngậm vành về sau !
Lặng nghe, lẩm nhẩm gật đầu:
Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng !
Nàng đà biết đến ta chǎng,
Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi !

1105. Nàng rằng: Muôn sự ơn người,
Thế nào xin quyết một bài cho xong.
Rằng: Ta có ngựa truy phong,
Có tên dưới trướng, vốn ḍng kiện nhi .
Thừa cơ lẻn bước ra đi,


1110. Ba mươi sáu chước, chước ǵ là hơn.
Dù khi gió kép, mưa đơn,
Có ta đây cũng chẳng cơn cớ ǵ !
Nghe lời nàng đă sinh nghi,
Song đà quá đỗi, quản ǵ được thân.

1115. Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu !
Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,
Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn.
Đêm thâu khắc lậu canh tàn,

1120. Gió cây trút lá, trǎng ngàn ngậm gương.
Lối ṃn cỏ nhợt mù sương,
Ḷng quê đi một bước đường, một đau .
Tiếng gà xao xác gáy mau,
Tiếng người đâu đă mái sau dậy dàng.

1125. Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đă rẽ dây cương lối nào !
Một ḿnh khôn biết làm sao,
Dặm rừng bước thấp, bước cao hăi hùng.
Hóa nhi thật có nỡ ḷng,

1130. Làm chi dày tía, ṿ hồng, lắm nau !
Một đoàn đổ đến trước sau,
Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời .
Tú bà tốc thẳng đến nơi,
Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà .

1135. Hung hǎng chẳng nói chẳng tra,
Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời .
Thịt da ai cũng là người,
Ḷng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau .
Hết lời thú phục, khẩn cầu,

1140. Uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa .
Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Nước non ĺa cửa, ĺa nhà, đến đây.
Bây giờ sống chết ở tay,
Thân này đă đến thế này th́ thôi !

1145. Nhưng tôi có sá chi tôi,
Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu ?
Thân lươn bao quản lấm đầu,
Chút ḷng trinh bạch từ sau xin chừa !
Được lời mụ mới tùy cơ,

1150. Bắt người bảo lĩnh làm tờ cung chiêu .
Bày vai có ả Mă Kiều,
Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan .
Mụ càng kể nhặt, kể khoan,
Gạn gùng đến mực, nồng nàn mới tha .

1155. Vực nàng vào nghỉ trong nhà,
Mă Kiều lại ngỏ ư ra dặn lời:
Thôi đà mắc lận th́ thôi !
Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?
Bạc t́nh, nổi tiếng lầu xanh,

1160. Một tay chôn biết mấy cành phù dung !
Đà đào lập sẵn chước dùng,
Lạ ǵ một cốt một đồng xưa nay !
Có ba mươi lạng trao tay,
Không dưng chi có chuyện này, tṛ kia !

1165. Rồi ra trở mặt tức th́,
Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời !
Nàng rằng: Thề thốt nặng lời,
Có đâu mà lại ra người hiểm sâu !
C̣n đương suy trước, nghĩ sau,

1170. Mặt mo đă thấy ở đâu dẫn vào .
Sở Khanh lên tiếng rêu rao:
Rằng nghe mới có con nào ở đây .
Phao cho quyến gió rủ mây,
Hăy xem có biết mặt này là ai

1175. Nàng rằng: Thôi thế th́ thôi !
Rằng không, th́ cũng vâng lời là không !
Sở Khanh quắt mắng đùng đùng,
Sấn vào, vừa rắp thị hùng ra tay,
Nàng rằng: Trời nhé có hay !

1180. Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai ?
Đem người giẩy xuống giếng khơi,
Nói rồi, rồi lại ǎn lời được ngay !
C̣n tiên tích việt ở tay,
Rơ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai ?

1185. Lời ngay, đông mặt trong ngoài,
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương !
Phụ t́nh án đă rơ ràng,
Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui .
Buồng riêng, riêng những sụt sùi:

1190. Nghĩ thân, mà lại ngậm ngùi cho thân.
Tiếc thay trong giá trắng ngần,
Đến phong trần, cũng phong trần như ai !
Tẻ vui cũng một kiếp người,
Hồng nhan phải giống ở đời măi ru !

1195. Kiếp xưa đă vụng đường tu,
Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi !
Dù sao b́nh đă vỡ rồi,
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong !
Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,

1200. Tú bà ghé lại thong dong dặn ḍ:
Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều .
Nàng rằng: Mưa gió dập d́u,
Liều thân, th́ cũng phải liều thế thôi!

1205. Mụ rằng: Ai cũng như ai,
Người ta ai mất tiền hoài đến đây ?
ở trong c̣n lắm điều hay,
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.
Này con thuộc lấy nằm ḷng,

1210. Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề .
Chơi cho liễu chán, hoa chê,
Cho lǎn lóc đá, cho mê mẩn đời .
Khi khóe hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa .

1215. Điều là nghề nghiệp trong nhà,
Đủ ngần ấy nết, mới là người soi .
Gót đầu vâng dạy mấy lời,
Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.
Những nghe nói, đă thẹn thùng,

1220. Nước đời lắm nỗi lạ lùng, khắt khe!
Xót ḿnh cửa các, buồng khuê,
Vỡ ḷng, học lấy những nghề nghiệp hay!
Khéo là mặt dạn, mày dày,
Kiếp người đă đến thế này th́ thôi!

1225. Thương thay thân phận lạc loài,
Dẫu sao cũng ở tay người biết sao ?
Lầu xanh, mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người .
Biết bao bướm lả, ong lơi,

1230. Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập d́u lá gió, cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối t́m Tràng Khanh.
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật ḿnh, ḿnh lại thương ḿnh xót xa .

1235. Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
Mặt người mưa Sở, mây Tần,

1240. Những ḿnh nào biết có xuân là ǵ!
Đôi phen gió tựa, hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trǎng thâu .
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!

1245. Đ̣i phen nét vẽ, câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa,
Vui là vui gượng kẻo mà,
Ai tri âm đó, mặn mà với ai ?
Thờ ơ gió trúc, mưa mai,

1250. Ngẩn ngơ trǎm nỗi, giùi mài một thân.
Ôm ḷng đ̣i đoạn xa gần,
Chẳng ṿ mà rối, chẳng dần mà đau!
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà .

1255. Dặm ngàn, nước thẳm, non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!
Sân ḥe đôi chút thơ ngây
Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc ḿnh?
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,

1260. Xa xôi ai có thấu t́nh chǎng ai ?
Khi về hỏi liễu Chương đài,
Cành xuân đă bẻ cho người chuyên tay .
T́nh sâu mong trả nghĩa dày,
Hoa kia đă chắp cành này cho chưa ?

1265. Mối t́nh đ̣i đoạn ṿ tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài .
Song sa ṿ vơ phương trời,
Nay hoàng hôn, đă lại mai hôn hoàng.
Lần lần thỏ bạc ác vàng,

1270. Xót người trong hội đoạn tràng đ̣i cơn !
Đă cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân !
Đă đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi !

 

1057. Rèm châu: do chữ Châu liêm, rèm kết bằng ngọc châu.

1061. Mạch: Ḍng dơi.

1063. Bóng nga: Bóng người đẹp, chỉ Kiều.

1064. Đeo đai: Vương vấn ra vẻ quyến luyến.

1067. Trong nguyện trên mây: ư nói có một phẩm giá khác đời, như Hằng nga trong cung nguyệt hay tiên nữ trên cung mây.

1070. Chữ ḷng ở đầu câu là Sở Khanh tự nói ḷng ḿnh c̣n chữ ḷng ở cuối câu là Sở Khanh hỏi ḷng Kiều, hai chữ chỉ riêng hai người.

1073. Song thu: Cửa sổ mùa thu (nói thời tiết khi ấy).

1080. Tế độ: Cứu vớt.

Trầm luân: Ch́m đắm, đắm đuổi. ư Kiều muốn nhờ Sở Khanh cứu ḿnh thoát nạn thanh lâu như Phật cứu vớt chúng sinh khỏi bể trầm luân.

1081. Mảnh tiên: Mảnh giấy hoa tiên, tức tờ thư.

1082. Nỗi nhà báo đáp: Nông nỗi phải báo đáp ơn nhà, bán ḿnh chuộc cha.

1084. Tiện hồng: Thuận tiện cánh chim hồng, tức là nhân có người mà gửi thư. Chữ hồng đây dùng như chữ nhạn, chỉ tin tức thư từ.

1086. Tiên mai: Do chữ mai tiên, tờ tiên có vẽ cành hoa mai.

1090. Tuất th́: Giờ tuất, tức tám, chín giờ tối hiện nay. Hai chữ tích việt của Sở Khanh, đem tản ra theo lối tản tự, th́ thành những chữ trấp nhất naật tuất lẩu, nghĩa là ngày hai mươi mốt, giờ tuất, chạy trốn. Đó là Sở Khanh bí mật hẹn ngày giờ đi trốn mà Kiều đă lấy ư tứ suy đoán ra.

1091. Thoi thót: Chim từng con lần lượt bay về, con này rồi đến con khác.

1092. Ngậm trǎng nửa vành: ư nói buổi tối, vầng trǎng chiếu vào hoa trà mi ngậm lấy nửa vành trǎng.

1096. ÂÂAn cần: ở đây có nghĩa là khẩn khoản.

1097. Bèo bọt: Như bèo hay bọt trôi nổi trên mặt nước, ngụ lư lưu lạc lẻ loi.

1098. Yến anh: Đây chỉ gái nhà chứa. ư Kiều nói: nàng như con chim lạc đàn, lại mang lấy cái nợ làm gái nhà chứa.

1099. Cốt nhục tử sinh: Do chữ sinh tử nhục cốt. Tả chuyện: Sở vị sinh tử cốt đă (thế gọi là làm sống lại người chết, làm mọc thịt nắn xương khô - làm cho người đă chết sống lại, xương đă khô mọc thịt ra). Do đó, người ta thường chỉ sự làm ơn rất sâu sắc, to lớn.

1100. Kết cỏ ngậm vành: Tả chuyện: Nguỵ Thù nước Tấn, có tột người thiếp yêu, khi sắp chết c̣n dặn con là Nguỵ Khoả phải đem cả người thiếp chôn theo. Nguỵ Thù chết, Nguỵ Khoả cho người thiếp về không đem chôn theo. Sau Nguỵ Khoả làm tướng đi đánh giặc nước Tần, gặp tướng Tần là Đỗ Hồi, khoẻ mạnh có tiếng, đang lúc đánh nhau, tự nhiên Đỗ Hồi vấp phải đám cỏ mà ngă, bị Nguỵ Khoả bắt được. Đêm về, Nguỵ Khoả mộng thấy một ông già đến nói rằng: "Tôi là cha người thiếp, cảm ơn ông không chôn con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân Đỗ Hồi cho nó ngă vấp để báo ơn".

Tục Tề hài kư: Dương Biểu đến chơi núi Hoa Âm cứu sống được một con chim. Đêm ấy có một đồng tử mặc áo vàng đến tặng bốn chiếc ṿng và nói rằng: "Ta là sứ giả của Tây Vương mẫu may được chàng cứu mạng, xin cảm tạ đại ân". Do đó, người ta thường nói "kết cỏ ngậm vành" để chỉ sự đền ơn trả nghĩa.

1107. Truy phong: Đuổi theo gió, nói con ngựa đi rất nhanh.

1108. Dưới trướng: Do chữ trướng hạ, nguyên chỉ quân sĩ thuộc quyền chỉ huy của một vị soái. Đây dùng để chỉ kẻ thủ hạ của Sở Khanh.

Kiện nhi: Người trẻ tuổi mà có sức khỏe. Sở Khanh khoe nhà y có ngựa tốt và thủ hạ khỏe mạnh, là có ư bảo Kiều nếu chạy trốn th́ sẽ sẵn phương tiện và người hộ vệ chắc chắn không phải lo ngại ǵ.

1110. Ba mươi sáu chước: "Tam thập lục" là một danh từ chỉ chung tất cả các chước. Câu này Sở Khanh bảo Kiều chỉ có một kế hay nhất là chạy trốn.

1111. Gió kép mưa đơn: ư nói dù có những trở ngại bất trắc...

1114. Quá đỗi: Quá mức, quá đà, ư nói việc đă trót dở dang rồi.

1119. Lậu: Đồng hồ nhỏ giọt. Thời xưa thường dùng "đồng hồ nước" để tính thời khắc. Đó là một cái đồng hồ bằng đồng, dưới có đục lỗ nhỏ, trong chứa nước, giữa đựng một cái tên có khắc độ; nước trong hồ do lỗ nhỏ giọt ra, th́ những độ số ở cái tên cũng dần dần lộ ra, xem đó, biết được thời khắc của ngày đêm. Danh từ đồng hồ ngày nay c̣n quen gọi là gốc ở đó.

1122. Ḷng quê: Ḷng nhớ quê hương.

1124. Dậy dàng: Xôn xao ồn ào nổi lên.

1125. Gan vàng: Có nghĩa như "ḷng vàng". Kiều đoán có người đuổi theo phía sau nên hồi hộp sợ hăi...

1128. Dặm rừng: Đường rừng, lối đi trong rừng.

1130. Lắm nau: Lắm nao, có nghĩa là đến như thế sao!

1132. Vuốt: Móng sắc của loài thú. ư nói không thoát lối nào được.

1139. Thú tội, chịu tội.

Khẩn cầu: Khẩn khoản, cầu xin.


 

 

1142. Nước non ư nói cách trở nước non, tức là nơi ở xa xôi.


 

1150. Bảo lĩnh: Người đứng ra đảm bảo, chịu trách nhiệm thay.

Cung chiêu: Cung khai, nhận tội Tú bà muốn bắt buộc Kiều giữ lời hứa, nên bắt làm tờ cung chiêu nhận tội, và bắt người đứng bảo lĩnh về lời cam kết của nàng.

 

1151. Bày vai: Cùng hàng cùng lứa.

1152. Chịu đoan: Chịu nhận trách nhiệm về Kiều.

1160. Phù dung: Hoa phù dung, ví với người đẹp.

1161. Đà đao: Khi đánh giặc, giả thua chạy để người ta đuổi theo, rồi th́nh ĺnh quǎng dao lại chém, gọi là "đà dao". "Đà đao" đây là một chước lửa.

1162. Mộ cốt một đồng: Nói Tú bà với Sở Khanh thông đồng hiệp mưu với nhau để đánh lừa Kiều.

1146. Không dưng: Nếu không th́ tự nhiên làm chi có...


 

1166. Sân si: Phân bua, căi cọ. Mă Kiều khuyên Kiều nên nén nỗi tức giận, chớ nên đôi có với Sở Khanh mà thiệt ḿnh.

1173. Quyến gió rủ mây: Quyến rũ mây gió đi theo. ư nói quyến rũ Kiều.

1178. Thị hùng: Cậy sức mạnh mà ra oai đánh đập người.

1189. Anh yến: Chỉ chung những người con gái.

1181. Giếng khơi: Giếng sâu.

1182. Ǎn lời: Nuốt lời, tức không giữ lời.

1184. Mặt ấy, mặt này: Mấy tiếng này, Kiều xỉa xói vào mặt Sở Khanh mà nói, đối đáp lại tiếng "mặt mày" của Sở Khanh ở trên.

1186. Vô lương: Cũng như bất lương, không lương thiện, không có lương tâm.

1191. Trong giá trắng ngần: Do câu tục ngữ: Trong như giá, trắng như ngần, trong như bǎng trắng như bạc (ngần là do chữ ngân).

1028. Khép mở, riêng chung: Chỉ giọng nói tỉ tê, nửa khép nửa mở, mối t́nh nỉ non, như riêng như chung, tức những mánh khoé quyến rũ.

1210. Vành ngoài bảy chữ: Bảy cách đối với khách ở bề ngoài để cho khách say mê.

Vành trong tám nghề: Tám cách đối đăi trong khi ǎn nằm với khách, đối với mỗi hạng người, dùng một lối riêng để làm vừa ḷng họ.

1213. Khoé hanh: Khoé mắt; mắt sắc như lá hạnh.

Khi khoé hạnh, khi nét ngài: ư nói khi mắt liếc, khi mày đưa.

1216. Người soi: Người sành sỏi, lịch lăm, biết ngón chơi.

1218. Nét nguyệt: Nét lông mày h́nh vành trǎng.

Vẻ hồng: Vẻ mặt hồng.

1220. Khắt khe: ở đây như nói éo le, quái ác.

1221. Các khuê: Do chữ khuê các.

1227. Trướng đào: Màn màu đỏ, phụ nữ thường dùng.

1231. Lá gió cành chim: Lá đưa gió, cành đón chim, chỉ sự đưa đón khách chơi.

1232. Tổng Ngọc: Người nước Sở, đời chiến quốc, đẹp trai, có những bài Cao đường phú, Thần nữ phú, nói về chuyện mây mưa của thần núi Vu Sơn...

Tràng Khanh: (Chính là chữ Trưởng nhưng thường đọc là Trường hay Tràng): Tên tự của Tư Mă Tương Như, người Hán, yêu sắc đẹp của Trác Vǎn Quân, gảy đàn cầm gợi t́nh, làm cho nàng đang đêm bỏ nhà chốn theo ḿnh.

Tống Ngọc và Tràng Khanh đều giỏi từ phú, là hai người tài tử, do đó, câu này ngụ ư khách đến chơi toàn những hạng phong lưu quư phái.

1239. Mưa Sở mây Tần: Chỉ sự ái ân trai gái.

1242. Gió tựa, hoa kề: ư nói những cảnh vui thú ở chốn thanh lâu.

1242. Tuyết ngậm: Bóng trǎng tỏ soi khắp bốn bề. Hai câu 1241-1242 tả bốn cảnh: "gió, hoa, tuyết, trǎng" (phong, hoa, tuyết nguyệt).

1246. Trong nguyệt: Trong bóng trǎng.

Dưới hoa: Dưới dàn hoa. Hai câu 1245-1246 tả bốn thú chơi: gẩy đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh, (cầm, kỳ, thi, hoa).

1249. Gió trúc mưa mai: Mưa gió chỉ sự ái ân (như nghĩa mưa gió dập vùi) trúc mai chỉ sự bạn. Đây tiếp ư trên: Kiều thờ ơ với tất cả những chuyện mưa gió, trúc mai...

1250. Giùi mài: Như nói ṃn mỏi, thui thủi. Cũng có ư như là bị dập vùi.

1253. Bóng dâu: Bóng mặt trời xế trên ngọn dâu. Sách Hoài nam nữ nói: Mặt trời xế về phía phương Tây, gác bóng trên ngọn cây. Người sau mượn chữ bóng dâu để ví tuổi già.

1255. Dặm ngh́n: Tức ngh́n dặm.

1257. Sân hoè: Sân có trồng cây hoè. Vương Hựu đời Tống tự tay trồng ba cây hoè ở sân nhà và nói: "Con cháu ta sau này thế nào cũng làm đến chức tam công" (Thời xưa, ở phía trước sân chầu nhà vua, chỗ ngồi của tam công, có trồng ba cây hoè, nên Vương Đán làm đến tể tướng. Nhân đó, người ta thường nói sân hoè để chỉ những nhà có con cái hiển đạt).

Đôi chút thơ ngây: Chỉ Thuư Vân và Vương Quan.

1258. Trân cam: Những thức ǎn quư báu, ngon ngọt. Hai câu này, ư Kiều nói: Cha mẹ mỗi ngày một già, mà con cái trong nhà, th́ sau khi nàng đi rồi, chỉ c̣n hai em nhỏ dại, lấy ai là người phụng dưỡng trân cam thay ḿnh.

1261. Chương Đài: theo sách Thái b́nh quảng kư: Hàn hoành, đời Đường lấy một danh kỳ là Liễu thị ở đường phố Chương Đài, Trường An, sau đi làm quan xa, để vợ ở lại đó ba nǎm, không đón đi được, có gửi cho Liễu thị bài từ rằng: Chương Đài Liễu, Chương Đài Liễu, đă ưng nhật thanh thanh kim tại phủ? Túng sử trường điều tự cựu thuỳ, đă ưng phan chiết tha nhân thủ! (Cây liễu Chương Đài, cây liễn Chương Đài, ngày trước xanh xanh, nay c̣n không? Cho dù cành dài vẫn buông rủ như cũ, song có lẽ đă vin vào tay người khác rồi!). Đây ư nói: Khi Kim Trọng đi Liêu Dương hộ tang chú trở về, sẽ hỏi người t́nh nhân cũ (là Thuư Kiều).

1262. Cành xuân: Cành xanh đẹp..

1263. T́nh sâu: chỉ t́nh chị em, Nghĩa dày: Chỉ nghĩa vợ chồng. ư Kiều mong Thuư Vân lấy t́nh chị em thay ḿnh, trả nghĩa cho Kim Trọng.

1264. Hoa kia, cành này: "Hoa kia" chỉ Thúy Vân, "cành này" chỉ Kim Trọng.

1266. Hương quan: Quê hương

Giấc hương quan: Giấc mộng về quê hương.

1267. Song ca: cũng như song the. Xem chú thích 240.

1268. Hoàng hôn: Về chiều tối, khi mặt trời sắp lặn, có ánh vàng vàng, gọi là hoàng hôn.

1269. Thỏ bạc, ác vàng: Như nói "thỏ lặn, ác tà" tức ngày và đêm lần lượt qua đi.

 

Kiu Gp Thúc Sinh

 

1275. Khách du bỗng có một người,
Kỳ Tâm họ Thúc cũng ṇi thư hương.
Vốn người huyện Tích châu Thường,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm tri .
Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,


1280. Thiếp hồng t́m đến hương khuê gửi vào .
Trướng tô giáp mặt hoa đào,
Vẻ nào chẳng mặn nét nào chǎng ưa ?
Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.


1285. Nguyệt hoa hoa nguyệt năo nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm ḷng được chǎng?
Lạ ǵ thanh khí lẽ hằng,
Một dây một buộc ai giằng cho ra .
Sớm đào tối mận lân la,


1290. Trước c̣n trăng gió sau ra đá vàng.
Dịp đâu may mắn lạ dường,
Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê .
Sinh càng một tỉnh mười mê,
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.
.


1295. Khi gió gác khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ .
Khi hương sớm khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn.
Miệt mài trong cuộc truy hoan,


1300. Càng quen thuộc nết càng dan díu t́nh.
Lạ cho cái sóng khuynh thành,
Làm cho đổ quán xiêu đ́nh như chơi .
Thúc sinh quen thói bốc rời,
Trǎm ngh́n đổ một trận cười như không.


1305. Mụ càng tô lục chuốt hồng,
Máu tham hễ thấy hơi đồng th́ mê .
Dưới trǎng quyên đă gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.
Buồng the phải buổi thong dong,


1310. Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa .
Rơ màu trong ngọc trắng ngà !
Dày dày sẵn đúc một ṭa thiên nhiên.
Sinh càng tỏ nét càng khen,
Ngụ t́nh tay thảo một thiên luật đường.


1315. Nàng rằng: Vâng biết ư chàng.
Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu .
Hay hèn lẽ cũng nối điêu,
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.
Ḷng c̣n gửi áng mây Vàng.


1320. Họa vần xin hăy chịu chàng hôm nay .
Rằng: Sao nói lạ lùng thay !
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra ?
Nàng càng ủ đột thu ba,
Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh:


1325. Thiếp như hoa đă ĺa cành,
chàng như con bướm lượn vành mà chơi .
Chúa xuân đành đă có nơi,
Vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi .
Sinh rǎng: Từ thuở tương tri,


1330. tấm riêng riêng những nặng v́ nước non.
Trăm năm tính cuộc vuông tṛn,
Phải ḍ cho đến ngọn nguồn lạch sông.
Nàng rằng: Muôn đội ơn ḷng.
Chút e bên thú bên ṭng dễ đâu .


1335. B́nh Khang nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa yêu được một màu điểm trang.
Rồi ra lạt phấn phai hương,
Ḷng kia giữ được thường thường măi chăng ?
Vả trong thềm quế cung trăng,


1340. chủ trương đành đă chị Hằng ở trong.
Bấy lâu khǎng khít dải đồng,
Thêm người người cũng chia ḷng riêng tây .
Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi .


1345. Trăm điều ngang ngửa v́ tôi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho ?
Như chàng có vững tay co,
Mười phần cũng đắp điếm cho một vài .
Thế trong dầu lớn hơn ngoài,


1350. trươc hàm sư tử gửi người đằng la .
Cúi đầu luồn xuống mái nhà,
Giấm chua lại tội băng ba lửa nồng.
ở trên c̣n có nhà thông,
Lượng trên trong xuống biết ḷng có thương?


1355. Sá chi liễu ngơ hoa tường?
Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh.
Lại càng dơ dáng dại h́nh,
Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng.
Thương sao cho vẹn th́ thương.

1360. Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng.
Sinh rằng: Hay nói đè chừng !
Ḷng đây ḷng đấy chưa từng hay saỏ
Đường xa chớ ngại Ngô Lào,
Trǎm điều hăy cứ trông vào một ta .

1365. Đă gần chi có điều xa ?
Đá vàng đă quyết phong ba cũng liều .
Cùng nhau cǎn vặn đến điều,
Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời .
Nỉ non đêm ngắn t́nh dài,

1370. Ngoài hiên thỏ đă non đoài ngậm gương.
Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hăy tạm giấu nàng một nơi .
Chiến ḥa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người ḍ la .


1375. Bắn tin đến mặt Tú bà,
Thua cơ mụ cũng cầu ḥa dám sao .
Rơ ràng của dẫn tay trao,
Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công.
Công tư đôi lẽ đều xong,


1380. Gót tiên phút đă thoát ṿng trần ai .
Một nhà sum họp trúc mai,
Càng sâu nghĩa bể càng dài t́nh sông.
Hương càng đượm lửa càng nồng,
Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen.


1385. Nửa nǎm hơi tiếng vừa quen,
Sân ngô cành biếc đă chen lá vàng.
Giậu thu vừa nảy gị sương,
Gối yên đă thấy xuân đường đến nơi .
Phong lôi nổi trận bời bời,


1390. Nặng ḷng e ấp tính bài phân chia .
Quyết ngay biện bạch một bề,
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh.
Thấy lời nghiêm huấn rành rành,
Đánh liều sinh mới lấy t́nh nài kêu .

1395. Rằng: Con biết tội đă nhiều,
Đẫu rằng sấm sét búa ŕu cũng cam.
Trót v́ tay đă nhúng chàm,
Dại rồi c̣n biết khôn làm sao đây .
Cùng nhau vả tiếng một ngày,


1400. ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.
Lượng trên quyết chẳng thương t́nh,
Bạc đen thôi có tiếc ḿnh làm chi .
Thấy lời sắt đá tri tri,
Sốt gan ông mới cáo qú cửa công.


1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng,
Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra .
Cùng nhau theo gót sai nha,
Song song vào trước sân hoa lạy qú.
Trông lên mặt sắt đen ś,


1410.Lập nghiêm trước đă ra uy nặng lời:
Gă kia dại nết chơi bời,
Mà con người thế là người đong đưa .
Tuồng chi hoa thải hương thừa,
Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.


1415. Suy trong t́nh trạng nguyên đơn,
Bề nào th́ cũng chưa yên bề nào .
Phép công chiếu án luận vào .
Có hai đường ấy muốn sao mặc ḿnh.
Một là cứ phép gia h́nh,


1420. Một là lại cứ lầu xanh phó về.
Nàng rằng: đă quyết một bề !
Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần.
Đục trong thân cũng là thân.
Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đ́nh !

1425. Dạy rằng: Cứ phép gia h́nh !
Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
Phận đành chi dám kêu oan,
Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày .
Một sân lầm cát đă đầy,

 


1430. Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương.
Nghĩ t́nh chàng Thúc mà thương,
Nẻo xa trông thấy ḷng càng xót xa .
Khóc rằng: Oan khốc v́ ta !
Có nghe lời trước chẳng đà lụy sau .


1435. Cạn ḷng chẳng biết nghĩ sâu .
Để ai trǎng tủi hoa sầu v́ ai .
Phủ đường nghe thoảng vào tai,
Động ḷng lại gạn đến lời riêng tây .
Sụt sùi chàng mới thưa ngay,

1440. Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân:
Nàng đà tính hết xa gần,
Từ xưa nàng đă biết thân có rày .
Tại tôi hứng lấy một tay,
Để nàng cho đến nỗi này v́ tôi .


1445. Nghe lời nói cũng thương lời,
Dẹp uy mới dạy cho bài giải vi .
Rằng: Như hẳn có thế th́
Trǎng hoa song cũng thị phi biết điều .
Sinh rằng: Chút phận bọt bèo,

1450. Theo đ̣i vả cũng ít nhiều bút nghiên.
Cười rằng: đă thế th́ nên !
Mộc già hăy thử một thiên tŕnh nghề.
Nàng vâng cất bút tay đề,
Tiên hoa tŕnh trước án phê xem tường.

1455. Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường !
Tài này sắc ấy ngh́n vàng chưa cân !
Thật là tài tử giai nhân,
Châu Trần c̣n có Châu Trần nào hơn?
Thôi đừng rước dữ cưu hờn,

1460. Làm chi lỡ nhịp cho đ̣n ngang cung.
Đă đưa đến trước cửa công,
Ngoài th́ là lư song trong là t́nh.
Dâu con trong đạo gia đ́nh,
Thôi th́ dẹp nỗi bất b́nh là xong.

1465. Kíp truyền sắm sửa lễ công,
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao .
Bày hàng cổ xúy xôn xao,
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi .
Thương v́ hạnh trọng v́ tài,

1470. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba .
Huệ lan sực nức một nhà,
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa

 

1275. Khách du: Khách đi chơi, đi du lăm.

1276. Kỳ tâm: Tên của họ Thúc, theo truyện Thanh tâm tài nhân th́ Kỳ Tầm là tên tự của Thúc sinh.

1277. Huyện Thích, Châu Thường: tức huyện Vô Tích, phủ Thường Châu, thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).

1278. Nghiêm đường: Tức cha. Cha tính nghiêm nghị, mẹ tính hiền từ, nên người ta gọi cha là "nghiêm đường", "nghiêm phụ", mẹ là "từ mẫu", "từ thân".

1279. Thiếp hồng: Do chữ hồng tiên, thứ thiếp hồng gửi thăm người đẹp. Hương khuê: Pḥng hương, pḥng ở của phụ nữ, tục xưa phụ nữ hay dùng hương thơm, nên gọi là "hương khuê".

1281. Trưởng tô: do chữ lưu tô trưởng, thứ màn có tua kết bằng lông chim năm sắc.

1287. Lẽ hằng: Lẽ thường như thế.

1289. Đào mận: Nói bóng sắc đẹp của người con gái.

1290. Đá vàng: Chỉ sự đồng tâm gắn bó với nhau.

1296. Chuốc: So chữ Chước, rót rượu mời nhau.
Nối thơ: Nối câu thơ, do chữ "liên cú" một lối chơi của các tao nhân mặc khách thời xưa, thường hai người, hoặc nhiều người nối lời nhau làm chung một bài thơ.

1297. Hương sớm, trà trưa: Xông hương buổi sớm, uống trà buổi trưa.

1298. Bàn vây: Bàn cờ vây. Trung Quốc có hai lối chơi cờ:
Vi kỳ: Cờ vây
Tượng kỳ: tức cờ tướng.

1299. Truy hoan: Theo đuổi sự vui chơi.

1301. Sóng khuynh thành: Chỉ cái liếc nh́n của người đàn bà đẹp.

1303. Bốc rời: Tiền rời cứ bốc từng nắm mà chi, không cần đếm là bao nhiêu, ư nói vung phí không tiếc tiền.

1306. Hơi đồng: Tức mùi tiền bạc. Thời xưa, tiền tiêu đúc bằng đồng, nên nói "đồng" tức là tiền.

1308. Lửa lựu: Hoa lựu khi nó nở trông đỏ chói như lửa chỉ cảnh mùa hè.

1312. ư nói Kiều có một thân thể đầy đặn xinh đẹp.

1314. Luật Đường: Tức lối thơ ngữ ngôn luật (luật nǎm chữ) hay thất ngôn luật (luật bảy chữ), mỗi bài tám câu, nǎm vần, theo đúng niêm luật bằng trắc. Lối này có từ đời Đường, nên gọi là luật Đường.

1317. Nối điêu: Nối đuôi con điêu. "Điêu" là một loài chuột ở rừng núi miền lạnh, đuôi to, lông dài đến một tấc, màu vàng hoặc đen tía. Đời Hán, theo quan chế, các quan hầu cận vua đều đội thứ mũ có cắm đuôi con điêu làm ngù. Đến đời Tần, Triệu Vương Luân cướp ngôi Huệ đế, phong quan tước cho bọn tôi tớ, mỗi khi triệu hội, ngồi đẩy những người đội mũ đuôi điêu, nên người thời ấy đă chê giếu: Điêu bất tức, cầu vĩ tục (đuôi điêu không đủ, lấy đuôi chó nối vào). Người sau nhân chữ cẩu vĩ tục điêu (nối điêu) để chỉ sự việc ǵ có tính chất học đ̣i. Chữ "nối điêu" ở đây, là lời Kiều tự khiêm về việc họa lại thơ Thúc sinh.

1318. Nỗi quê: Nỗi ḷng nhớ quê hương.

1319. Mây vàng: Nói ư nhớ nhà, do câu thơ cổ: Tần Trung đa bạch vân. Thục trung đa hoàng vân, cố tư gia giả vị chi cư hoàng vân (đất Tần nhiều mây trắng, đất Thục nhiều mây vàng, cho nên nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng).

1322. Cành kia, cỗi này: Chỉ Kiều và Tú bà. Thúc sinh tưởng Kiều là con đẻ của Tú bà.

1323. Thu ba: Sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói con mắt trong suốt như suối mùa thu).

1327. Chúa xuân: Người chủ vường xuân, chủ hoa xuân, đây chỉ Thúc sinh. Câu này ư nói: Thúc Sinh ở nhà đă có vợ rồi.

1329. Tương tri: Hiểu biết nhau thông cảm với nhau.

1330. Nước non: Sông núi tức lời thề nguyền kết làm vợ chồng.

1334. Thú, ṭng: Thú là "thú thiếp": lấy vợ lẽ, chỉ bên Thúc sinh; ṭng "ṭng lương": trở về lương, tức bỏ chỗ lầu xanh để trở về, đi lấy chồng, chỉ bên Kiều. Hai bên cùng gặp nhiều khó khăn.

1335. B́nh khang: Đời Đường, ở kinh thành Trường an, gần cửa Bắc, có một xóm gọi là B́nh Khang cho kỹ nữ ở, sau nhân dùng làm danh từ chỉ chung xóm kỹ nữ.

1339. Thềm quế: Thềm điện quế. Dâu đương tạp trở chép: Trên mặt trăng có cây quế tiêu, cao năm trăm trượng, do đó, khi tả mặt trăng, người ta thường dùng chữ điện quế, cung quế.

1340. Chị Hằng: Chị Hằng Nga, người chủ trương trong điện quế, nói bóng vợ cả Thúc sinh.

1341. Giải đồng: Giải đồng tâm.

1342. Thêm người, người cũng... chữ người chỉ Kiều, chữ người dưới chỉ Thúc sinh.

1343. Bèo mây: Nói thân phận trôi nổi bất định như bèo mặt nước, mây trên không.

1344. Bể ái: Bể ân ái, tức t́nh yêu vợ chồng.

1347. Vững tay co: Cái tay co vững. Kiều nói: Nếu chàng có cứng tay, tức có quyền lực đối với vợ cả.

1349. Trong ngoài: Chỉ vợ cả và Thúc sinh. Theo lễ giáo xưa: Nam t ự ngoại, nữ tự nội: Đàn ông trong coi việc bên ngoài, đàn bà trông coi việc trong nhà. ư Kiều nói: Nếu thế lực vợ cả lớn hơn thế lực chàng.

1350. Hàm sư tử: Đời Tống, Trần Tháo, hiệu Long Khâu cư sĩ, hay nói chuyện đạo Phật, vợ là Liễu thị, tính dữ tợn mà cả ghen, mỗi khi Tháo thết tiệc tân khách, có ca kỹ, th́ ở trong nhà, Liễu thị lấy gậy đập vào vách, ḥ hét, khách phải giải tán. Tồ Thức, Bạn Tháo, viết mấy câu thơ đùa:

"Thuỳ tự Long Khâu cư sĩ hiền,
Đàm không thuyết hữu dạ bất miên,
Hốt văn Hà Đông sư tử hồng
Trụ trượng lạc thủ tấm mang nhiên".

Dịch nghĩa:

"Ai giỏi như Long Khâu cư sĩ
"Nói những thuyết không, thuyết có, đếm không ngủ
"Bỗng nghe sử tử Hà Đông rống lên
"Tay rơi gậy chống, ḷng bàng hoàng.

Đằng la: Những loài dây leo (chính nghĩa là dây bim, dây tơ hồng) dây dùng như chữ cát đằng dây b́m, ví với phận lẽ mọn.

1352. Một số cố lăo ở Nghệ - Tĩnh thuộc hai chữ đầu câu này là Dấm vùi hay Nhúm vùi. ư nói: lửa bếp vùi âm ỉ cháy (chỉ thói ghen tuông) c̣n khó chịu hơn cả lửa hồng.

1353. Nhà thông: Nhà thung, đọc chệch ra, tức nhà xuân, do chữ xuân đường chỉ bố Thúc sinh.

1355. Liễu ngơ, hoa tường: Nói ví gái lầu xanh như liễu bên đường, hoa đầu tường, ai vin ai hái cũng được.

1363. Ngô, Lào: Nước Ngô (Trung Quốc), nước Lào (Ai Lao) tác giả dùng nghĩa bóng. ư nói: Đừng nghĩ ngợi xa xôi, quanh quẩn làm ǵ.

1366. Phong ba: Sóng gió, chỉ sự bất trắc xẩy ra.

1370. Non đoài: Núi ở phía tây.

1371. Trúc viện: Viện trúc, nơi nghỉ mát có trồng trúc xung quanh.

Thừa lương: Hóng mát, nghỉ mát, Thúc sinh mượn cớ là đưa Kiều đi hóng mát.

1373.Chiến, hoà: ở đây, chiến là dịa chuyện kiện cáo, hoà là lựa cách điều đ́nh. Theo Kim vân Kiều truyện của Thanh Tầm: Thúc sinh đưa Kiều về ở nhà Hoa Dương, một tay hào phú xứ ấy, rồi một mặt cậy Hoa Dương rêu rao về tội mua con gái nhà lương thiện về làm gái điếm, một mặt mượn Bộ Tần đến đièu đ́nh việc chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh.

1376. Thua cơ: Thua mưu, thua mẹo của Thúc sinh.

1378. Hoàn lương: Gái đĩ bỏ nghề cũ trở về đời lương thiện.

1380. Trần ai: Bụi bậm chỉ cảnh lầu xanh.

1381. Trúc, mai: Chỉ sự giao kết thân mật của vợ chồng.

1383. Hương lửa: Chỉ t́nh duyên vợ chồng.

1384. Ngọc sen: Hai câu tỏ ư "sum họp" mai trúc đă về một nhà.

1386. Sân ngô: Sân có trồng cây ngô đồng. Ngô đồng là một loài cây cao, cành lá xanh biếc, nên thường gọi là bích ngô chen lá vàng giữa cḥm lá xanh biếc, tức trời đă sang thu.

1387. Giậu thu: Giậu hoa mùa thu.

Gị sương: gị hoa chịu được sương, ư chỉ hoa cúc.

1389. Phong lôi: gió, sấm, nói cơn giận nổi lên dữ dội như gió, như sấm.

1390. Nặng ḷng e ấp: Thúc ông trong ḷng lấy làm e sợ về việc để cho con gái lầu xanh như thế, v́ không những làm xấu thanh danh nhà ḿnh, mà đối với Hoạn thư cũng sẽ có chuyện lôi thôi.

1391. Biện bạch: ở đây nghĩa là phán bảo minh mạch, rành rọt.

1393. Nghiêm huấn: Lời dạy của bố.

1396. Sấm sét: Do chữ lôi đ́nh, chỉ sự ra uy, như quát mắng đánh đập.

Búa ŕu: Do chữ phủ việt, chỉ dự gia h́nh, ư cả câu: Dẫu đánh mắng hay giết chết cũng xin chịu.

1397. Tay đă nhúng chàm: Cái tay đă nhúng vào chàm, th́ dù rút ra cũng bị nhuốm chàm xanh rồi.

1400. Đă lấy nhau thành vợ chồng th́ nỡ nào lại ĺa bỏ, cũng như nỡ ôm đàn cầm mà gẩy th́ nỡ nào lại đứt dây cho được.

1402. Bạc đen: Chưa thực rơ nghĩa. Có người giải bạc đen là sống chết cũng liều.

1404. Sốt gan: Nóng gan, như nói nóng tiết.

Cáo quỳ: Cáo là thưa tŕnh, qú là qú gối, tức qú gối mà đề đơn thưa tŕnh. Lệ xưa, ai vào quan thưa tŕnh việc ǵ, phải qú gối trước công đường đầu đội lá đơn.

1405. Đất bằng nối sóng: Do chữ B́nh địa ba đào.

1406. Phủ đường: Dinh quan phủ, ở đầy chỉ quan phủ.

Phiếu hồng: Tờ trát của quan.

Thôi tra: Đ̣i lên xét hỏi.

1408. Sân hoa: Sân phủ đường (chữ hoa ở đây chỉ đặt cho đẹp lời)

1409. Mặt sắt: Do chữ thiết diện, mặt đen và cứng rắn như sắt, thường mượn để chỉ một vị quan cương trực, nghiêm nghị.

1415. Nguyên đơn: Đơn của người nguyên cáo, tức Thúc ông (Thúc sinh và Kiều là bị cáo).

1419. Gia h́nh: Gia h́nh có nghĩa là bắt phải chịu tội, h́nh phạt, ở đây là phạt trượng tức dùng trường (gậy) mà đánh.

1422. ư Kiều nói: Đă quyết t́nh hoàn lương rồi, không muốn lại lần nữa mắc vào cảnh lầu xanh, như con nhện lại vướng víu vào lưới tơ thêm một lần nữa.

1423. Đục, trong: ư nói: dù đục hay trong, dù dở hay hay.

1424. Yếu thơ: Yếu ớt, thơ dại.

Lôi đ́nh: Sấm sét, chỉ h́nh phạt.

1426. Ba cây: Do chữ tam mộc là thứ h́nh cụ thể bằng gỗ thời xưa, tức già, nữu giới (cái gông cổ, cái kẹp tay và cái cùm chân). ở đây, chữ bạ cây, chỉ các h́nh phạt dồn vào cái thân yếu ớt của Kiều.
Mẫu đơn: Cành hoa đẹp ví nói Kiều.

1437. Phủ đường: chỉ vào quan phủ.

1440. Cầu thân: Cầu làm thân, nói việc định lấy nhau.

1446. Giải vi: Cởi, gỡ ṿng vây ra, đây ư nói gỡ cho ra lối thoát để giải quyết việc rắc rối này.

1452. Mộc già: Cái gông. Đầu đề bài thơ là vịnh cái gông.

1455. Giá đáng Th́nh Đường: ư nói tương đương với thơ Thịnh Đường.
Thịnh Đường: là giai đoạn phồn thịnh nhất thơ của triều đại nhà Đường, Trung Quốc;

1458. Châu Trần: ở châu Từ, về huyện Phong, xưa kia có họ Châu và họ Trần, đời đời làm thông gia với nhau, về sau người ta dùng hai chữ Châu Trần để nói sự lấy nhau đẹp đôi xứng lứa.

1459. Rước dữ cưu hờn: Mua rước lây điều dữ và cưu mang lây sự hờn giận.

1467. Cổ xuư: Cổ là những nhạc khí dùng để đánh như chiêng, trống. Xuư là những nhạc khí để thổi, như kèn sáo.

1468. Trường đào: Màn hoa đào, đây tức là buồng cưới.

1470. Huệ lan: Hoa huệ, hoa lan, ngụ ư nói cảnh sum họp.

 

Kiu và Hon Thư 

 

Những vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh.

1475. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,
E t́nh nàng mới bày t́nh riêng chung:
Phận bồ từ vẹn chữ ṭng,
Đổi thay nhạn yến đă ḥng đầy niên.
Tin nhà ngày một vắng tin,

1480. Mặn t́nh cát lũy lạt t́nh tào khang.
Nghĩ ra thật cũng nên đường,
Tǎm hơi ai dễ giữ giàng cho ta?
Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,
ở vào khuôn phép nói ra mối đường.

1485. E thay những dạ phi thường,
Dễ ḍ rốn bể khôn lường đáy sông!
Mà ta suốt một nǎm ṛng,
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ
Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao,

1490. Hoặc là trong có làm sao chǎng là?
Xin chàng kíp liệu lại nhà,
Trước người đẹp ư sau ta biết t́nh.
Đêm ngày giữ mức giấu quanh,
Rày lần mai lữa như h́nh chưa thông.

1495. Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
Đành ḷng sinh mới quyết ḷng hồi trang.
Rạng ra gửi đến xuân đường,
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
Tiễn đưa một chén quan hà,

1500. Xuân đ́nh thoắt đă dạo ra cao đ́nh.
Sông Tần một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan.
Cầm tay dài ngắn thở than,
Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.

1505. Nàng rằng: Non nước xa khơi,
Sao cho trong ấm th́ ngoài mới êm.
Dễ ḷa yếm thắm trôn kim,
Làm chi bưng mắt bắt chim khó ḷng!
Đôi ta chút nghĩa đèo ḅng,

1510. Đến nhà trước liệu nói ṣng cho minh.
Dù khi sóng gió bất t́nh,
Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi.
Hơn điều giấu ngược giấu xuôi.
Lại mang những việc tày trời đến sau.

1515. Thương nhau xin nhớ lời nhau,
Nǎm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.
Chén đưa nhớ bữa hôm nay,
Chén mừng xin đợi ngày này nǎm sau!
Người lên ngựa kẻ chia bào,

1520. Rừng phong thu đă nhuốm màu quan san.
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đă khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng nǎm canh,
Kẻ đi muôn dặm một ḿnh xa xôi.

1525. Vầng trǎng ai xẻ làm -dôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Kể chi những nỗi dọc đường,
Buồn trong này nỗi chủ trương ở nhà:
Vốn ḍng họ Hoạn danh gia,

1530. Con quan Lại bộ tên là Hoạn thư.
Duyên đằng thuận nẻo gió đưa,
Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.
ở ǎn th́ nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc th́ tay cũng già.

1535. Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đă lắm tin nhà th́ không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Trách người đen bạc ra ḷng trǎng hoa:
Ví bằng thú thật cùng ta,

1540. Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào ḿnh?
Lại c̣n bưng bít giấu quanh,
Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!

1545. Tính rằng cách mặt khuất lời,
Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!
Lo ǵ việc ấy mà lo,
Kiến trong miệng chén có ḅ đi đâu?
Làm cho nh́n chẳng được nhau,

1550. Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!
Làm cho trông thấy nhăn tiền,
Cho người thǎm ván bán thuyền biết tay.
Nỗi ḷng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

1555. Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ư cũng liệu bài tâng công.
Tiểu thư nổi giận đùng đùng:
Gớm tay thêu dệt ra ḷng trêu ngươi!
Chồng tao nào phải như ai,

1560. Điều này hẳn miệng những người thị phi!
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa th́ vả miệng đứa th́ bẻ rǎng.
Trong ngoài kín mít như bưng.
Nào ai c̣n dám nói nǎng một lời!

1565. Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
Đêm ngày ḷng những dặn ḷng,
Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên.
Lời tan hợp nỗi hàn huyên,

1570. Chữ t́nh càng mặn chữ duyên càng nồng.
Tẩy trần vui chén thong dong,
Nỗi ḷng ai ở trong ḷng mà ra.
Chàng về xem ư tứ nhà,
Sự ḿnh cũng rắp lân la giăi bày.

1575. Mấy phen cười nói tỉnh say,
Tóc tơ bất động mảy may sự t́nh.
Nghĩ đà bưng kín miệng b́nh,
Nào ai có khảo mà ḿnh đă xưng?
Những là e ấp dùng dằng,

1580. Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.
Có khi vui chuyện mua cười,
Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu.
Rằng: Trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đă tin nhau cả mười.

1585. Khen cho những chuyện dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù bụng chẳng hay suy,
Đă dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười!
Thấy lời thủng thỉnh như chơi,

1590. Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đ̣n.
Những là cười phấn cợt son,
Đèn khuya chung bóng trǎng tṛn sánh vai.
Thú quê thuần hức bén mùi,
Giếng vàng đă rụng một vài lá ngô.

1595. Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một màu quan tái mấy mùa gió trǎng.
T́nh riêng chưa dám rỉ rǎng,
Tiểu thư trước đă liệu chừng nhủ qua:
Cách nǎm mây bạc xa xa,

1600. Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn.
Được lời như cởi tấc son,
Vó câu chẳng ruổi nước non quê người.
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

1605. Roi câu vừa gióng dặm trường,
Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh.
Thưa nhà huyên hết mọi t́nh,
Nỗi chàng ở bạc nỗi ḿnh chịu đen.
Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen,

1610. Xấu chàng mà có ai khen chi ḿnh!
Vậy nên ngảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đă rắp ranh những ngày.
Lâm Tri đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay th́ gần.

1615. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hăy đem dây xích buộc chân nàng về.
Làm cho cho mệt cho mê,
Làm cho đau đớn ê chề cho coi!
Trước cho bơ ghét những người,

1620. Sau cho để một tṛ cười về sau.
Phu nhân khen chước rất mầu,
Chiều con mới dạy mặc dầu ra tay.
Sửa sang buồm gió lèo mây,
Khuyển ưng lại chọn một bầy côn quang.

1625. Dặn ḍ hết các mọi đường,
Thuận phong một lá vượt sang bến Tề.
Nàng từ chiếc bóng song the,
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.
Bóng đâu đă xế ngang đầu,

1630. Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi.
Tóc thề đă chấm ngang vai,
Nào lời non nước nào lời sắt son.
Sắn b́m chút phận cỏn con,
Khuôn duyên biết có vuông tṛn cho chǎng?

1635. Thân sao nhiều nỗi bất bằng,
Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao!
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trǎng khuyết ba sao giữa trời.
Nén hương đến trước Phật đài,

1640. Nỗi ḷng khấn chửa cạn lời vân vân.
Dưới hoa dậy lũ ác nhân,
ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra.
Đầy sân gươm tuốt sáng ḷa,
Thất kinh nàng chửa biết là làm sao.

1645. Thuốc mê đâu đă rưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm bao biết ǵ.
Vực ngay lên ngựa tức th́,
Pḥng đào viện sách bốn bề lửa dong.
Sẵn thây vô chủ bên sông,

1650. Đem vào để đó lộn ṣng ai hay?
Tôi đ̣i phách lạc hồn bay,
Pha càn bụi cỏ gốc cây ẩn ḿnh.
Thúc ông nhà cũng gần quanh,
Chợt trông ngọn lửa thất kinh rụng rời.

1655. Tớ thầy chạy thẳng đến nơi,
Tơi bời tưới lửa t́m người lao xao.
Gió cao ngọn lửa càng cao,
Tôi đ̣i t́m đủ nàng nào thấy đâu!
Hớt hơ hớt hải nh́n nhau,

1660. Giếng sâu bụi rậm trước sau t́m quàng.
Chạy vào chốn cũ pḥng hương,
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn.
T́nh ngay ai biết mưu gian,
Hẳn nàng thôi lại c̣n bàn rằng ai!

1665. Thúc ông sùi sụt ngắn dài,
Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na.
Di hài nhặt gói về nhà,
Nào là khâm liệm nào là tang trai.
Lễ thường đă đủ một hai,

1670. Lục tŕnh chàng cũng đến nơi bấy giờ.
Bước vào chốn cũ lầu thơ,
Tro than một đống nắng mưa bốn tường.
Sang nhà cha tới trung đường,
Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên.

1675. Hỡi ôi nói hết sự duyên,
Tơ t́nh đứt ruột lửa phiền cháy gan!
Gieo ḿnh vật vă khóc than:
Con người thế ấy thác oan thế này.
Chắc rằng mai trúc lại vầy,

1680. Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau!
Thương càng nghĩ nghĩ càng đau,
Dễ ai lấp thảm quạt sầu cho khuây.
Gần miền nghe có một thầy,
Phi phù trí quỷ cao tay thông huyền.

1685. Trên tam đảo dưới cửu tuyền,
T́m đâu th́ cũng biết tin rơ ràng.
Sắm sanh lễ vật rước sang,
Xin t́m cho thấy mặt nàng hỏi han.
Đạo nhân phục trước tĩnh đàn,

1690. Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.
Trở về minh bạch nói tường:
Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đă tra.
Người này nặng kiếp oan gia,
C̣n nhiều nợ lắm sao đà thoát cho!

1695. Mệnh cung đang mắc nạn to,
Một nǎm nữa mới thǎm ḍ được tin.
Hai bên giáp mặt chiền chiền,
Muốn nh́n mà chẳng dám nh́n lạ thay!
Điều đâu nói lạ dường này,

1700. Sự nàng đă thế lời thầy dám tin!
Chẳng qua đồng cốt quàng xiên,
Người đâu mà lại thấy trên cơi trần?
Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân,
Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên.


1705. Nước trôi hoa rụng đă yên,
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.
Khuyển ưng đă đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Buồm cao lèo thẳng cánh suyền,

1710. Đè chừng huyện Tích bǎng miền vượt sang.
Dỡ đ̣ lên trước sảnh đường,
Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công.
Vực nàng tạm xuống môn pḥng,
Hăy c̣n thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.

1715. Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai,
Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?
Bàng hoàng giở tỉnh giở say,
Sảnh đường mảng tiếng đ̣i ngay lên hầu.
A hoàn trên dưới giục mau,

1720. Hăi hùng nàng mới theo sau một người.
Ngước trông ṭa rộng dăy dài,
Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

1725. Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra,
Sự ḿnh nàng phải cứ mà gửi thưa.
Bất t́nh nổi trận mây mưa,
Mắng rằng: Những giống bơ thờ quên thân!
Con này chẳng phải thiện nhân,

1730. Chẳng phường trốn chúa th́ quân lộn chồng.
Ra tuồng mèo mả gà đồng,
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.
Đă đem ḿnh bán cửa tao,
Lại c̣n khủng khỉnh làm cao thế này.

1735. Nào là gia pháp nọ bay!
Hăy cho ba chục biết tay một lần.
A hoàn trên dưới dạ ran,
Dẫu rằng trǎm miệng không phân lẽ nào.
Trúc côn ra sức đập vào,

1740. Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh.
Xót thay đào lư một cành,
Một phen mưa gió tan tành một phen.
Hoa nô truyền dạy đổi tên,
Buồng the dạy ép vào phiên thị t́.

1745. Ra vào theo lũ thanh y,
Dăi dầu tóc rối da ch́ quản bao.
Quản gia có một mụ nào,
Thấy người thấy nết ra vào mà thương.
Khi chè chén khi thuốc thang,

1750. Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh.
Dạy rằng: May rủi đă đành,
Liểu bồ ḿnh giữ lấy ḿnh cho hay.
Cũng là oan nghiệp chi đây,
Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.

1755. Ở đây tai vách mạch rừng,
Thấy ai người cũ cũng đừng nh́n chi.
Kẻo khi sấm sét bất kỳ,
Con ong cái kiến kêu ǵ được oan?
Nàng càng giọt ngọc như chan,

1760. Nỗi ḷng luống những bàng hoàng niềm tây:
Phong trần kiếp chịu đă đầy,
Lầm than lại có thứ này bằng hai.
Phận sao bạc chẳng vừa thôi,
Khǎng khǎng buộc măi lấy người hồng nhan.

1765. Đă đành túc trái tiền oan,
Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi.
Những là nương náu qua th́,
Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia.
Mẹ con tṛ chuyện lân la,

1770. Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời:
Tiểu thư dưới trướng thiếu người,
Cho về bên ấy theo đ̣i lầu trang.
Lănh lời nàng mới theo sang,
Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu.

1775. Sớm khuya khǎn mắt lược đầu,
Phận con hầu giữ con hầu dám sai.
Phải đêm êm ả chiều trời,
Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lĩnh lời nàng mới lựa dây,

1780. Nỉ non thánh thót dễ say ḷng người.
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Cửa người đày đọa chút thân,
Sớm ngơ ngẩn bóng đêm nǎn nỉ ḷng.

1785. Lâm Tri chút nghĩa đèo bồng,
Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau.
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
Lần lần tháng trọn ngày qua,

1790. Nỗi gần nào biết đường xa thế này.
Lâm Tri từ thuở uyên bay,
Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
Mày ai trǎng mới in ngần,
Phần thừa hương cũ bội phần xót xa.

1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.
T́m đâu cho thấy cố nhân?
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,

1800. Nhớ quê chàng lại t́m đường thǎm quê.
Tiểu thư đón cửa giăi giề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.

1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đă tỏ chừng nẻo xa:
Phải chǎng nắng quáng đèn ḷa,
Rơ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ t́nh mới rơ t́nh,

1810. Thôi thôi đă mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rơ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.

1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ǎn làm sao nói làm sao bây giờ?
Càng trông mặt càng ngẩn ngơ,

1820. Ruột tằm đ̣i đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn siêu:
Thương ơi chẳng phải nàng Kiều ở đây?

1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi ta đă mắc tay ai rồi!
Sợ quen dám hở ra lời,
Không ngǎn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:

1830. Mới về có việc chi mà động dong?
Sinh rằng hiếu phục vừa xong,
Suy ḷng trắc dĩ đau ḷng chung thiên.
Khen rằng: Hiếu tử đă nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu.

1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực tŕ hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt qú tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,

1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đă giạm bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn th́ ta có đ̣n.

1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ ḥn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày tṛ chơi.
Rằng: Hoa nô đủ mọi tài,

1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước b́nh the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát ḷng.

1855. Cùng chung một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lă chă khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:

1860. Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi\?
Sao chẳng biết ư tứ ǵ?
Cho chàng buồn bă tội th́ tại ngươi.
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.

1865. Giọt rồng canh đă điểm ba,
Tiểu thư nh́n mặt dường đà can tâm.
Ḷng riêng khấp khởi mừng thầm:
Vui này đă bơ đau ngầm xưa nay.
Sinh th́ gan héo ruột đầy,

1870. Nỗi ḷng càng nghĩ càng cay đắng ḷng.
Người vào chung gối loan pḥng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
Bây giờ mới rơ tǎm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!

1875. Chước đâu rẽ thúy chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nh́n được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như ch́,

1880. Gỡ cho ra nữa c̣n ǵ là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?
Một ḿnh âm ỉ đêm chày,
Đĩa dầu vơi nước mắt đầy nǎm canh.

1885. Sớm trưa hầu hạ đài doanh,
Tiểu thư chạm mặt đè t́nh hỏi tra.
Lựa lời nàng mới thưa qua:
Phải khi ḿnh lại xót xa nỗi ḿnh.
Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh:

1890. Cậy chàng tra lấy thực t́nh cho nao!
Sinh đà rát ruột như bào,
Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng đang!
Những e lại lụy đến nàng,
Đánh liều mới sẽ lựa đường hỏi tra.

1895. Cúi đầu quỳ trước sân hoa,
Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.
Diện tiền tŕnh với Tiểu thư,
Thoạt xem dường có ngẩn ngơ chút t́nh.
Liền tay trao lại Thúc Sinh,

1900. Rằng: Tài nên trọng mà t́nh nên thương!
Ví chǎng có số giàu sang,
Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!
Bể trần ch́m nổi thuyền quyên,
Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời!

1905. Sinh rằng: Thật có như lời,
Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay!
Ngh́n xưa âu cũng thế này,
Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa.
Tiểu thư rằng: ư trong tờ,

1910. Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không.
Thôi th́ thôi cũng chiều ḷng,
Cũng cho khỏi lụy trong ṿng bước ra.
Sẵn Quan âm các vườn ta,
Có cây trǎm thước, có hoa bốn mùa.

1915. Có cổ thụ, có sơn hồ,
Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh.
Tàng tàng trời mới b́nh minh,
Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.
Đưa nàng đến trước Phật đường,

1920. Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia.
áo xanh đổi lấy cà sa,
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,
Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà.

1925. Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.
Nhân duyên đâu lại c̣n mong,
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng th́ thôi.
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,

1930. Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Cho hay giọt nước cành dương,
Lửa ḷng tưới tắt mọi đường trần duyên.
Nâu sồng từ trở màu thiền,
Sân thu trǎng đă vài phen đứng đầu,

1935. Cửa thiền, then nhặt, lưới mau,
Nói lời trước mặt, rời châu vắng người.
Gác kinh viện sách đôi nơi,
Trong gang tấc lại gấp mười quan san.
Những là ngậm thở nuốt than,

1940. Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà.
Thừa cơ, sinh mới lẻn ra,
Xǎm xǎm đến mé vườn hoa với nàng.
Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng,
Giọt châu tầm tă đẫm tràng áo xanh:

1945. Đă cam chịu bạc với t́nh,
Chúa xuân để tội một ḿnh cho hoa!
Thấp cơ thua trí đàn bà,
Trông vào đau ruột nói ra ngại lời.
V́ ta cho lụy đến người,

1950. Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh!
Quản chi lên thác xuống ghềnh,
Cũng toan sống thác với t́nh cho xong.
Tông đường chút chửa cam ḷng,
Nghiến rǎng bẻ một chữ đồng làm hai.

1955. Thẹn ḿnh đá nát vàng phai,
Trǎm thân dễ chuộc một lời được sao?
Nàng rằng: Chiếc bách sóng đào,
Nổi ch́m cũng mặc lúc nào rủi may!
Chút thân quằn quại vũng lầy,

1960. Sống thừa c̣n tưởng đến rày nữa sao?
Cũng liều một giọt mưa rào,
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay!
Xót v́ cầm đă bén dây,
Chẳng trǎm nǎm cũng một ngày duyên ta.

1965. Liệu bài mở cửa cho ra,
ấy là t́nh nặng ấy là ân sâu!
Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu,
Ḷng người nham hiểm biết đâu mà lường.
Nữa khi giông tố phũ phàng,

1970. Thiệt riêng đó cũng lại càng cực đây.
Liệu mà xa chạy cao bay,
ái ân ta có ngần này mà thôi!
Bâu giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?

1975. Dẫu rằng sông cạn đá ṃn,
Con tằm đến thác cũng c̣n vướng tơ!
Cùng nhau kể lể sau xưa,
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời.
Mặt trông tay chẳng nỡ rời,

1980. Hoa t́ đă động tiếng người nẻo xa.
Nhận ngừng, nuốt tủi, lảng ra,
Tiểu thư đâu đă rẽ hoa bước vào.
Cười cười, nói nói ngọt ngào,
Hỏi: Chàng mới ở chốn nào lại chơi?

1985. Dối quanh Sinh mới liệu lời:
T́m hoa quá bước, xem người viết kinh.
Khen rằng: Bút pháp đă tinh,
So vào với thiếp Lan đ́nh nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,

1990. Ngh́n vàng, thật cũng nên mua lấy tài!
Thiền trà cạn chén hồng mai,
Thong dong nối gót thư trai cùng về.
Nàng càng e lệ ủ ê,
Rỉ tai, hỏi lại hoa t́ trước sau.

1995. Hoa rằng: Bà đă đến lâu,
Rón chân đứng nép độ đâu nữa giờ.
Rành rành kẽ tóc chân tơ,
Mấy lời nghe hết đă dư tỏ tường.
Bao nhiêu đoạn khổ, t́nh thương,

2000. Nỗi ông vật vă, nỗi nàng thở than.
Ngǎn tôi đứng lại một bên,
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.
Nghe thôi kinh hăi xiết đâu:
Đàn bà thế ấy thấy âu một người!

2005. ấy mới gan ấy mới tài,
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!
Người đâu sâu sắc nước đời,
Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!
Thực tang bắt được dường này,

2010. Máu ghen ai cũng chau mày nghiến rǎng.
Thế mà im chẳng đăi đằng,
Chào mời vui vẻ nói nǎng dịu dàng!
Giận dầu ra dạ thế thường,
Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu!

2015. Thân ta ta phải lo âu,
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này!
Ví chǎng chắp cánh cao bay,
Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!
Phận bèo bao quản nước sa,

2020. Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Chỉn e quê khách một ḿnh,
Tay không chưa dễ t́m vành ấm no!
Nghĩ đi nghĩ lại quanh co,
Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân.

2025. Bên ḿnh giắt để hộ thân,
Lần nghe canh đă một phần trống ba.
Cất ḿnh qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trǎng tà về tây.

1473. Mảng: Tiếng cổ có ư nói mải mê về một việc ǵ mà quên đi. ở đây là nghĩa này.

1474. ư nói hết mùa xuân và bắt đầu sang mùa hạ

1478. Chim én (mùa xuân) chim nhạn (mùa thu), đổi thay nhau, ư nói từ mùa nọ sang mùa kia. ở đây ư nói thời gian trôi thấm thoắt gần được một nǎm.

1480. Tào khang: bă rượu cám. Người vự cùng ǎn bă, ǎn cám với nhau, tức là - người vợ cả lấy từ lúc c̣n hàn vi. Vua Quang Vũ nhà Hán muốn đem người chị gái mới goá là công chúa Hồ Dương gả cho Tống Hoằng, nhưng Hoằng đă có vợ. Vua hỏi ư Hoằng, Hoằng thưa: Tào khang chi thê, bất hạ đường, nghĩa là người vợ lấy trong lúc ǎn tấm, ǎn cám, không thể để xuống dưới nhà, ư nói không thể khinh rẻ, phụ bạc. Vua biết ư vậy, liền thôi.

1485. Phi thường: khác với người thường, ư nói người sâu sắc, hiểm độc.
1496. Hồi trang: Về quê.
1498. Ninh gia: Về thǎm nhà.

1499. Quan hà: Quan cửa ải, hà là sông. Chén quan hà: Chén rượu tiễn biệt.

1500. Xuân đ́nh: Có thể hiểu là nơi xum họp, vui vẻ.Cao đ́nh: Cổ thi: Cao đ́nh tương biệt xứ, chỗ biệt nhau ở Cao đ́nh.

1501. Sông Tần: Sông ở đất Tần Xuyên, mạn tỉnh Cam Túc. Theo Tản Đà th́ sông Tần là sông Tần Hoài, thuộc tỉnh Giang Tồ, quê Thúc Sinh (Vô Tích).

1502. Dương quan: Tên một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây, mạn tây bắc Trung Quốc.1507. Yến thắm trôn kim: Chưa thực rơ nghĩa. Đại ư câu này nói: Kiều cho rằng việc hai người lấy nhau là việc không thể dấu kín được.


1508. Bưng mắt bắt chim: Bưng mắt lại th́ không thể nào bắt được chim. ư nói không thể nào che giấu nổi việc có vợ lẽ.

1509. Đèo ḅng: Có nghĩa là vương vít t́nh duyên.1510. Nói ṣng: Tức nói thẳng, nói trắng ra, không quanh co giấu giếm.


1519. Bào: áo. Thường thường trong khi ly biệt người ta hhay nắm lấy áo nhau, tỏ t́nh quyến luyến. Chia bào tức là buông áo.

1520. Phong: Một loại cây ở Trung Quốc, lá chia ra nhiều cành, gần giống lá cây thầu dầu ở bên ta, đến mùa thu th́ sắc lá hoá đỏ.

Quan san: Quan ải, núi non, thường được dùng để chỉ sự xa xôi cách trở.1521. Dặm hồng: Dặm đường đi giữa bụi hồng. Chinh là đi đường xa, an là yên ngựa. Người ta thường dùng hai chữ chinh an để chỉ việc đi đường xa.

1528. Buồng trong: Chỉ vào người vợ. Cây này đại ư nói: Bây giờ hăy nói đến người vợ Thúc sinh làm chủ gia đ́nh ở quê nhà.

1530. Lại bộ: Bộ lại, tức là quan trọng nhất trong sáu bộ của triều đ́nh phong kiến.

1531. Duyên Đằng: Cổ thi: Thời lai phong tống Đằng vương các (Thời vận đến, gí đưa lại gác Đằng Vương). ư nói gặp cơ hội may mắn.

1534. Ràng buộc: Có nghĩa là thắt buộc, cho người khác vào khuôn, vào phép của ḿnh.

1535. Vườn mới thêm hoa: ư nói Thúc sinh có thêm vợ lẽ.

1538. Đen bạc: Cùng nghĩa như bạc bẽo, phụ bạc.Trǎng hoa: Do chữ hoa nguyệt mà ra, ư chỉ sự chơi bời trai gái.
 
1541. Nền: Nền nếp của người trên, tư thế của ḿnh là người bề trên.


1551. Nhăn tiền: Trước mắt.

1552. Tục ngữ: Chưa thǎm ván đă bán thuyền. ở đây chỉ Thúc sinh là người mới nới cũ.


1560. Thị phi: Có nghĩa là việc phải th́ nói thành trái, việc trái th́ nói thành phải, thêu dệt phải trái làm cho người nghe mắc lầm.

1568. Lầu hồng: Do chữ hồng lâu, nhà ở bọn quyền quư, cũng dùng để chỉ chỗ ở của hạng phụ nữ giàu sang.

1571. Tẩy trần: Rửa bụi. Tục xưa, khi có người đi xa về th́ đặt tiệc "tẩy trần", ư nói rửa sạch bụi bặm trong lúc đi đường.


1578. Khảo: Tra khảo.

1580. Rút dây động rừng: Tục ngữ, ư nói rút một sợi dây làm rung chuyển đến cả một khu rừng. Câu này ư nói: Thúc sinh sợ nói lộ câu chuyện lấy Kiều ra sẽ gây nên sóng gió trong gia đ́nh.

1583-1584: Đại ư nói ngọc hay đă, vàng hay thau đôi ta đều đă biết phân biệt rạch ṛi, không thể nào lầm lẫn được.


1593. Thuần: là một thứ rau, hức là một thứ cá. Trương Hàn đời nhà Tấn, đang lúc làm quan ở xa, thấy cơn gió thu, sực nhớ đến canh rau thuần và chả cá hức ở quê nhà, bèn bỏ quan mà về. V́ thế, người ta thường dùng hai chữ thuần hức để chỉ thú vui chơi nơi quê nhà.

1594. Cổ thi: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cọng tri thu: (chỉ một lá ngô đồng rụng mà ai cũng biết là thu sang). Câu này đại ư nói: Thúc sinh ở quê nhà vừa bén mùi rau cá th́ trời đă bắt đầu sang thu.1596. Quan tái: cũng như quan ải, chỉ nơi núi non bờ cơi.1599.

Mây bạc: Do chữ bạch vân mà ra. Định Nhân Kiệt đời Đường đi làm quan xa, thường chỉ đám mây trên núi Thái Hàng mà nói: "Nhà cha mẹ ta ở đây". ở đây dùng để nói Thúc sinh có cha ở xa.


1606. Xe hương: Do chữ Hương xa, chỉ xe của phụ nữ.Quy ninh là về hỏi thǎm sức khoẻ của cha mẹ.

1609. Thành ngữ: Ngứa ghẻ hờn ghen ư nói hai điều khó chịu nhất.


1614. Hải đạo: Đường biển.1621. Mầu: Mầu nhiệm: Mẹ Hoạn thư khen cái mưu ấy rất điệu rất hay.


1623. Buồm: Lá buồm. Lèo: dây treo buồm.

1624. Khuyển: chó, Ưng: chim cắt, hai loài vật dùng để đi sǎn. ở đây dùng để đặt tên cho bọn tôi tớ trung thành của họ Hoạn.
Côn quang: Cũng như côn đồ, dùng để chỉ bọn vô lại.

1626. Thuận phong: Thuận gió. Một lá: Một lá buồm, Kiều lúc ấy đang ở Lâm Tri, Lâm Tri nguyên là kinh đô nước Tề xưa, nên gọi là bến Tề.

1630. ấm lạnh: Do chữ Ôn sảnh (Đông ôn hạ sảnh), ngọt bùi do chữ cam chỉ, ư nói làm con phải quạt nồng ấm lạnh và phụng dưỡng những thức ngon lành cho cha mẹ..

1632. Lời non nước: Lời chỉ non thề biển. Lời sắt son: Lời trung thành vững chắc như sắt như son.1633. Sắn b́m: Do chữ cát đằng mà ra. Xem chú thích 902.1636.

Cung Quảng: Cung Quảng hàn trong mặt trǎng, ả Hằng tức ả Hằng Nga trong cung. Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, trộm thuốc trường sinh của chồng rồi chạy lên ở một ḿnh trên cung trǎng; Câu này đại ư nói: Thôi th́ liều sống một ḿnh như Hằng Nga trong cung Quảng Hàn vậy.

1638. Ba sao: Do chữ Kinh Thi: Tam tinh tại thiên (ba sao ở trời). ở đây tác giả chỉ mượn câu ấy để nói đêm đó ngoài song gió thổi, giữa trời có trǎng có sao v.v...
 
1642. Khốc quỷ kinh thần: Quỷ thần khóc, thần phải sợ, ư nói rất ghê sợ.


1667. Di hài: Hài cốt sót lại.

1668. Khâm liệm: Lễ mặc quần áo mới và bọc vải lụa cho người chết trước khi bỏ vào áo quan.
Tang trai: Lễ đưa ma và làm chay.

1670. Lục tŕnh: Đi đường bộ.

1673. Trung đường: Nhà chính giữa.1674. Linh sàng: Giường thờ.
Bài vị: Mảnh gỗ viết tên người chết để thờ.

1680. Vĩnh quyết: Cũng như vĩnh biệt, từ biệt hẳn, không bao giờ gặp nhau nữa.

1684. Phi phù trí quỷ: đốt bùa mà gọi được quỷ đến.
Thông huyền: Thông cảm được với cơi huyền bí, tức cơi quỷ thần.


1685. Tam đảo: Ba đảo tiên: Bồng lai, Phương Trượng, Doanh Châu. Người ta thường dùng để chỉ cơi thiêng liêng hoặc cơi tiên.
Cửu tuyền: Chín suối, tức là âm phủ.

1689. Đạo nhân: cũng như đạo sĩ, chỉ ông thấy pháp.
Tĩnh đàn: Đàn thờ thần thánh của bọn thầy pháp.

1690. Xuất thần: Linh hồn thầy pháp thoát ra ngoài thể xác để đi vào cơi thần linh.

1695. Mệnh cung: Cung là bản mệnh, một trong 12 cung của số Tử vi. Sách số có câu: Cung mệnh mà có sao Bột chiếu vào th́ người ấy mắc nạn. Câu này đại ư nói: Xem số Thuư Kiều th́ đang mắc nạn to.

1697. Chiền chiền: Tiếng cổ, có nghĩa là rành rành, hoặc liền liền.

1701. Đồng cốt: Ông đồng, bà cốt, những người làm nghề câu đồng, câu bóng.

.
1709. Cảnh suyền: Cánh buồm đi nhanh.

1715. Hoàng Lương: Kê vàng. Xưa Lư sinh đời Đường đi thi gặp ông già họ Lă cho mượn cái gối nằm ngủ. Chàng mơ thấy ḿnh thi đỗ, làm quan vinh hoa phú quư hơn 20 nǎm. Lúc tỉnh giấc th́ nồi kê của nhà hàng nấu chưa chín. Người sau bèn dùng hai chữ hoàng lương để chỉ giấc mơ.
Hồn mai: Xưa có người gặp cô gái trong rừng, cùng uống rượu, sáng dậy thấy ḿnh nằm dưới gốc cây mai. Đây chỉ có ư nói là giấc mơ màng.

1719. ả hoàn: các đầy tớ gái trẻ tuổi.

1722. Thiên quang trủng tể: Thiên quang là loại quan đứng đầu sáu lại quan do nhà Chu đặt ra. Trủng tể tức là chức tể tướng.

1724. Thất bảo: Bảy sản vật quư như vàng, bực, lưu ly, xà cừ, mă năo, san hô, trân châu. ở đây chỉ cái giường có khảm các vật quư.


1731. Mèo mả gà đồng: Mèo hoang sống ở mồ mả; gà hoang sống ở ngoài đồng, người ta thường dùng để ví với hạng người lông bông, giang hồ.

1735. Gia pháp: Phép tắc trong nhà để trừng phạt gia nhân và tôi tớ.

1739. Trúc côn: Gậy tre.

1741. Đào lư: Cây đào, cây lư, thường dùng để chỉ phụ nữ.

1744. Phiên thị tỳ: Thị tỳ ở nhà quyền quư rất nhiều, chia ra từng ban và từng phiên mà hầu hạ, nên gọi là phiên thị tỳ.

1745. Thanh ly: áo xanh. Đầy tớ gái các nhà giàu sang đời xưa đều mặc áo xanh, nên gọi là thanh y.

1747. Quản gia: Trong gia đ́nh quan lại phong kiến đời xưa thường dùng những người đàn bà đứng tuổi trông coi việc nhà và cai quản số hầu gái, gọi là quản gia.


1750. Phương tiện: ở đây có nghĩa là đối đăi, xử trí mọi việc.

Hiếu sinh: Quí trọng sinh mệnh, ư nói tránh cho người ta con đường khổ sở chết chóc.

1752. Liễu và bồ là hai giống cây mềm yếu thường được dùng để chỉ phụ nữ.

1753. Oan nghiệp: Tiền oan, nghiệp chướng, có ư nói có oan thù và tội lỗi từ thời trước để lại.

1755. Tai vách mạch rừng: Do câu thành ngữ: Rừng có mạch vách có tai.

1761. Phong trần: Nghĩa đen là gió bụi, thường được dùng để chỉ sự khổ sở mà người đời phải chịu.

1765. Túc trái tiền oan: Nợ nần, oán thù từ kiếp trước để lại.

1774. Địa ngục, thiên đường: Theo giáo lư đạo Phật th́ những người độc ác sau khi chết phải xuống địa ngục để chịu tội, c̣n hồn những người lương thiện th́ được lên thiên đường. ở đây ư nói nơi khổ ải và nơi sung sướng.

1778. Trúc tơ: Do chữ ty trúc: ty là tơ để làm dây đàn, trúc là tre để làm ống sáo. Hai chữ này thường được dùng để chỉ các thứ âm nhạc nói chung.

1786. Tương phùng: Gặp nhau. Câu này ư nói: Thuư Kiều nghĩ rằng t́nh nghĩa giữa ḿnh với Thúc Sinh muốn nối lại th́ hoạ chǎng chỉ ở kiếp khác.

1782. ư nói: Thuư Kiều trông ra bốn bể th́ thấy đâu cũng man mác một màu mây trắng mà không thấy quê nhà.

1788. Cố quốc: Nguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như chữ cố hương (quê cũ).

1791. Uyên: do chữ uyên ương, giống chim ở với nhau từng đôi, nên người ta thường dùng để chỉ vợ chồng. Uyên bay: ư nói Thuư Kiều không c̣n nữa (con chim uyên đă bay mất).

1793. Trǎng mới: Trǎng đầu tháng. Câu nói đại ư nói: Thúc sinh trông thấy mặt trǎng lưỡi liềm đầu tháng giống như lông mày người gái đẹp mà tưởng nhớ đến Kiều.

1794. Câu này đại ư nói: Thuư Kiều không c̣n nữa. Thúc sinh trông thấy phấn hương của nàng c̣n sót lại mà thương tâm.1

797. Cố nhận: Người quen biết cũ. ở đây chỉ Thuư Kiều.

1799. Gia hương: Nhà và làng, tức quê nhà. ở đây chỉ quê hương của Thúc sinh ở huyện Vô Tích.1803. Nhà hương: Do chữ Hương khuê.

1816. Thành ngữ: Giết người không dao. ở đây chỉ mưu mẹo nham hiểm.

1823. Phách lạc hồn xiêu: Do chữ hồn phi phách tán, ư nói sợ hăi một cách ghê gớm.

1830. Động dong: Biến đổi sắc mặt, ư nói động ḷng.

1831. Hiếu phục: Tang trở cha mẹ. ở đây chỉ Thúc sinh vừa hết tang mẹ.

1832. Trắc dĩ: Kinh thi có câu Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mâu hề (lên núi Dĩ trông ngóng mẹ). Người sau bèn dùng hai chữ Trắc Dĩ để nói thương nhớ mẹ.

Chung thiên: Suốt đời, ư nói không bao giờ quên.

1833. Hiếu tử: Người con có hiếu với cha mẹ.

1834. Giải phiền: Làm cho khuây khoả sự phiền năo.

1835. Thù: Chén rượu do chủ nhà rót mời khách.Tạc: Chén rượu do khách rót cho người chủ để đáp lại. ở đây nói vợ chồng Thúc sinh uống rượu và mời mọc nhau.

1836. Tŕ hồ: Bưng bầu rượu. ư nói bắt Kiều đứng hầu một bên để rót rượu cho hai vợ chồng Thúc sinh uống.

1846. Bồ ḥn để ám chỉ người có việc buồn khổ mà không nói ra được. ở đây ư nói: chén rượu Kiều đưa mời chàng thấy đắng như bồ ḥn, nhưng v́ sợ Kiều bị liên luỵ phải uống hết ngay.

1856. Người ngoài là người ngoài cuộc, thi Hoạn thư: người trong là người trong cuộc chỉ Thúc sinh và Kiều.

1865. Giọt rồng: có nghĩa là thời giờ, thời khắc.1866. Cam tậm: Thoả ḷng, hả dạ.1871. Loan pḥng: Pḥng nằm của đôi vợ chồng;

1875. Thuư: Chim chả. Uyên: Chim uyên ương. ở đây chỉ việc Hoạn Thư dùng mưu chia rẽ đôi lứa Thúc sinh và Thuư Kiều.1885. Đài dinh: Đài các, dinh thự, chỉ chỗ ở của bọn quyền quư. ở đây mượn để chỉ nhà ở của Thúc sinh và Hoạn thư.

1896. Thân cung: Cung khai, khai tŕnh.1897. Diện tiền: Trước mặt.

1910. Cửa không: Do chữ không môn. V́ đạo Phật cho mọi vật trên thế gian đều là "không" nên người ta gọi đạo Phật là "Không môn".

1913. Quan âm các: Cái chùa thờ Phật Quan thế âm Bồ tát. Đây là chùa riêng của nhà Hoạn Thư.1915. Cổ thụ: Cây lâu nǎm.
Sơn hồ: Núi giả và hồ đào ra để làm cảnh.

1917. Tàng tàng: Tang tảng sáng.

1918. Ngũ cúng: Nǎm vật cúng Phật, tức hương, hoa, đǎng, trà, quả.

1920. Tam quy: Ba lễ "qui y" tức quy y phật, quy y pháp, quy y tǎng, nghĩa là đem cả tâm và thân mà theo đạo Phật.

Ngũ giới: Nǎm điều rǎn, tức là rǎn sát sinh, rǎn ǎn rộm, rǎn tà dâm, rǎn nói càn, rǎn uống rượu.
Xuất gia: Ra khỏi nhà tức đi tu.

1921. áo xanh: Thanh y, áo các hầu gái mặc.Cà sa: áo nhà sư mặc.

1922. Pháp danh: Tên đặt theo tập tục tôn giáo. Trạc Tuyền là pháp danh do Hoạn thư đặt cho Kiều.
 
1924. Xuân, thu: Tên hai người đầy tớ gái do Hoạn thư sai đến Quan âm các ở với Kiều để giúp việc hương đèn.


1926. Rừng tía: Do chữ tư trúc lâm, chỗ ở của Phật Quan âm Bồ tát.
Bụi hồng: Do chữ hồng trần, tức cơi trần tục, cơi đời.

1927. Nhân duyên: Duyên vợ chồng. ở đây chỉ duyên phận giữa Kiều và Thúc sinh.

1930. Thủ tự: Chữ viết tay.
Tâm hương: Hương ḷng. Nén hương dân lên do tấm ḷng thành kính.

1931. Giọt nước cành dương: Do chữ dương chi thuỷ. Theo sách Phật th́ Phật Quan âm có cành dương liễu và b́nh nước cam lộ, khi muốn cứu ai th́ lấy cành dương liễu dúng nước trong b́nh mà rảy vào người ấy. ở đây giọt nước cành dương dùng để chỉ phép màu nhiệm của Phật.

1932. Lửa ḷng: do chữ tâm hoả, chỉ mọi thứ dục ṿng do ḷng người sinh ra.Trần duyên: Duyên nợ ở cơi trần.

1937. Gác kinh: Cái gác viết kinh, chỉ chỗ ở của Kiều.
Viện sách: Tức thư viện, pḥng đọc sách, chỉ chỗ ở của Thúc sinh.

1940. Vấn an: Hỏi thǎm sức khoẻ.1944. áo xanh: Do chữ thanh sam, chỉ thứ áo xanh mà các nhà nho sĩ xưa thường mặc.

1950. Cát lầm ngọc trắng: ư nói Kiều như "ngọc trắng" mà bị cát vùi dập.

1953. Tông đường: Nhà tổ tông. ở đây dùng với nghĩa: "nối dơi tông đường". ư nói Thúc sinh nghĩ ḿnh chưa có con trai để nối dơi tông đường.

1957. Dông tố: Cơn mưa to gió lớn. ở đây chỉ sự giận giữ ghê gớm của Hoạn thư.


1987. Bút pháp: Phép viết chữ.

1988. Thiếp Lan - đ́nh: Do chữ Lan-đ́nh thiếp là bản bút tích rất tốt của nhà vǎn Vương Hy Chi, đời Tần.

1991. Thiền trà: Nước trà của nhà chùa.Hông mai: Gỗ cây mai già dùng để nấu làm nước uống, sắc nước đỏ hồng, nên gọi là hồng mai.

1992. Thư trai: Nhà đọc sách, cũng như thư viện.

2008. Bó tay: Chữ hán là thúc thủ. Đặt hai chữ "bó tay" sau chữ "Thúc" là một cách chơi chữ của tác giả.

2011. Đăi đằng: ở đây lại có nghĩa là nói nǎng, làm ầm ĩ lên.

2014. Cổ nhân có câu: Nộ giả thường t́nh, tiếu giả bất khả t rắc, nghĩa là: Giận dữ là thói thường, cười th́ không thể lường được. Câu này dùng ư ấy.


2018. Câu này ư nói: Bị giam giữ ở đây lâu, thế nào cũng có ngày ḿnh bị hành hạ điêu đứng hơn, hoặc bị trừ khử.


2020. Câu này ư nói: Thuư Kiều nghĩ thân phận của ḿnh như cánh bèo trên mặt nước, ở đâu th́ cũng là lênh đênh cả, không c̣n quản ǵ.

2024. Kim ngân: Vàng bạc, chỉ các đồ thờ như chuông, khánh đúc bằng vàng bạc.

 

 

Kiu Gp T Hi

 

Mịt mù dặm cát đồi cây,

2030. Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.
Canh khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường xá, phần thương dăi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đă biết đâu là nhà!

2035. Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành Chiêu ẩn am ba chữ bài.
Xǎm xǎm gơ mái cửa ngoài,
Trụ tŕ nghe tiếng, rước mời vào trong.
Thấy màu ǎn mặc nâu sồng,

2040. Giác duyên sư trưởng lành ḷng liền thương.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng nàng hăy t́m đường nói quanh:
Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh,
Qui sư, qui Phật, tu hành bấy lâu.

2045. Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.
Rày vâng diện hiến rành rành,
Chuông vàng khánh bạc bên ḿnh giở ra.
Xem qua sư mới dạy qua:

2050. Phải nơi Hằng Thủy là ta hậu t́nh.
Chỉ e đường sá một ḿnh,
ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.

2055. Kệ kinh câu cũ thuộc ḷng,
Hương đèn việc cũ, trai pḥng quen tay.
Sớm khuya lá bối phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,

2060. Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Cửa thuyền vừa tiết cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời.
Gió quang mây tạnh thảnh thơi,
Có người đàn việt lên chơi cửa Già.

2065. Giở đồ chuông khánh xem qua,
Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương!
Giác Duyên thực ư lo lường,
Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau.
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu,

2070. Sự ḿnh nàng mới gót đầu bày ngay:
Bây giờ sự đă dường này,
Phận hèn dù rủi, dù may, tại người.
Giác Duyên nghe nói rụng rời,
Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong.

2075. Rỉ tai nàng mới giăi ḷng:
ở đây cửa Phật là không hẹp ǵ;
E chǎng những sự bất kỳ,
Để nàng cho đến thế th́ cũng thương!
Lánh xa, trước liệu t́m đường,

2080. Ngồi chờ nước đến, nên đường c̣n quê!
Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang, dặn hết mọi đường,
Dọn nhà hăy tạm cho nàng trú chân.

2085. Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tính gần tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc bà học với Tú bà đồng môn!
Thấy nàng mặt phấn tươi son,

2090. Mừng thầm được mối bán buôn có lời.
Hư không đặt để nên lời,
Nàng đà nhớn nhác rụng rời lắm phen.
Mụ càng xua đuổi cho liền,
Lấy lời hung hiểm ép duyên Châu Trần.
2095. Rằng: Nàng muôn dặm một thân,

Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa.
Khéo oan gia, của phá gia,
C̣n ai dám chứa vào nhà nữa đây!
Kíp toan kiếm chốn xe dây,

2100. Không dưng chưa dễ mà bay đường trời!
Nơi gần th́ chẳng tiện nơi,
Nơi xa th́ chẳng có người nào xa.
Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai.

2105. Cửa hàng buôn bán châu Thai,
Thực thà có một, đơn sai chẳng hề.
Thế nào nàng cũng phải nghe,
Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai.
Bấy giờ ai lại biết ai,

2110. Dầu ḷng bể rộng sông dài thênh thênh.
Nàng dù quyết chẳng thuận t́nh,
Trái lời nẻo trước lụy ḿnh đến sau.
Nàng càng mặt ủ mày chau,
Càng nghe mụ nói, càng đau như dần.

2115. Nghĩ ḿnh túng đất, sẩy chân,
Thế cùng nàng mới xa gần thở than:
Thiếp như con én lạc đàn,
Phải cung rày đă sợ làn cây cong!
Cùng đường dù tính chữ ṭng,

2120. Biết người, biết mặt, biết ḷng làm sao?
Nữa khi muôn một thế nào,
Bán hùm, buôn sói, chắc vào lưng đâu?
Dù ai ḷng có sở cầu,
Tâm ḿnh xin quyết với nhau một lời.

2125. Chứng minh có đất, có Trời,
Bấy giờ vượt bể ra khơi quản ǵ?
Được lời mụ mới ra đi,
Mách tin họ Bạc tức th́ sắm sanh.
Một nhà dọn dẹp linh đ́nh,

2130. Quét sân, đặt trác, rửa b́nh, thắp nhang.
Bạc sinh qú xuống vội vàng,
Quá lời nguyện hết Thành hoàng, Thổ công.
Trước sân ḷng đă giăi ḷng,
Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên.

2135. Thành thân mới rước xuống thuyền,
Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai.
Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi,
Bạc sinh lên trước t́m nơi mọi ngày.
Cũng nhà hành viện xưa nay,

2140. Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.
Xem người định giá vừa rồi,
Mối hàng một, đă ra mười, th́ buông.
Mượn người thuê kiệu rước nường,
Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa!

2145. Kiệu hoa đặt trước thềm hoa,
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng.
Đưa nàng vào lạy gia đường,
Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!
Thoắt trông nàng đă biết t́nh,

2150. Chim lồng khốn lẽ cất ḿnh bay cao.
Chém cha cái số hoa đào,
Gỡ ra, rồi lại buộc vào như chơi!
Nghĩ đời mà chán cho đời,
Tài t́nh chi lắm, cho trời đất ghen!

2155. Tiếc thay nước đă đánh phèn,
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần,
Đă xoay đến thế, c̣n vần chửa tha.
Lỡ từ lạc bước bước ra,

2160. Cái thân liệu những từ nhà liệu đi.
Đầu xanh đă tội t́nh chi?
Má hồng đến quá nửa th́ chưa thôi.
Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

2165. Lần thu gió mát trǎng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đ́nh sang chơi,
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai nǎm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,

2170. Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.

2175. Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm ḷng nhi nữ cùng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc hai ḷng cùng ưa.
Từ rằng: Tâm phúc tương cờ

2180. Phải người trǎng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bơ chi cá chậu, chim lồng mà chơi!

2185. Nàng rằng: Người dạy quá lời,
Thân này c̣n dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá thử vàng,
Biết đâu mà gởi can tràng vào đâu?
C̣n như vào trước ra sau,

2190. Ai cho kén chọn vàng thau tại ḿnh.
Từ rằng: Lời nói hữu t́nh,
Khiến người lại nhớ câu B́nh Nguyên Quân.
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không?

2195. Thưa rằng: Lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!
Nghe lời vừa ư gật đầu,

2200. Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người!
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đă biết tên ta,
Muôn chung ngh́n tứ cũng là có nhau!

2205. Hai bên ư hợp tâm đầu,
Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân!
Ngỏ lời nói với bǎng nhân,
Tiền trǎm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồn riêng sửa chốn thanh nhàn,

2210. Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.
Trai anh hùng, gái thuyền nguyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Nửa nǎm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đă động ḷng bốn phương.

2215. Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa lên đàng thẳng rong.
Nàng rằng: Phận gái chữ ṭng,
Chàng đi thiếp cũng quyết ḷng xin đi!
Từ rằng: Tâm phúc tương tri,

2220. Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường t́nh?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rơ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia,

2225. Bằng ngay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành ḷng chờ đó ít lâu,
Chầy chǎng là một nǎm sau vội ǵ?
Quyết lời rứt áo ra đi,

2230. Cánh bằng tiện gió cất ĺa dậm khơi.
Nàng th́ chiếc bóng song mai,
Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây.
Sân rêu chẳng vẽ dấu giầy,
Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân.

2235. Đoái thương muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa;
Xót thay huyên cỗi xuân già,
Tấm ḷng thương nhớ, biết là có nguôi.
Chốc là mười mấy nǎm trời,

2240. C̣n ra khi đă da mồi tóc sương.
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu ĺa ngó ư c̣n vương tơ ḷng!
Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đă tay bồng tay mang.

2245. Tấc ḷng cố quốc tha hương,
Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đă ṃn con mắt phương trời đǎm đǎm.
Đêm ngày luống những âm thầm,

2250. Lửa binh đâu đă ầm ầm một phương,
Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sông ḱnh ngạc, chật đường giáp binh.
Người quen kẻ thuộc chung quanh
Nhủ nàng hăy tạm lánh ḿnh một nơi.

2255. Nàng rằng: Trước đă hẹn lời,
Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa.
C̣n đương dùng dắng ngẩn ngơ
Mái ngoài đă thấy bóng cờ tiếng loa.
Giáp binh kéo đến quanh nhà,

2260. Đồng thanh cùng gửi: nào là phu nhân?
Hai bên mười vị tướng quân,
Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu.
Cung nga, thể nữ nối sau,
Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu qui.

2265. Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,
Hoa quan phấp phới hà y rỡ ràng.
Dựng cờ, nổi trống lên đàng,
Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng theo sau.
Hoả bài tiền lộ ruổi mau,

2270. Nam đ́nh nghe động trống chầu đại doanh.
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài.
Rỡ ḿnh, là vẻ cân đai,
Hăy c̣n hàm én mày ngài như xưa.

2275. Cười rằng: Cá nước duyên ưa,
Nhớ lời nói những bao giờ hay không?
Anh hùng mới biết anh hùng,
Rầy xem phỏng đă cam ḷng ấy chưa?
Nàng rằng: Chút phận ngây thơ,

2280. Cũng may dây cát được nhờ bóng cây.
Đến bây giờ mới thấy đây,
Mà ḷng đă chắc những ngày một hai.
Cùng nhau trông mặt cả cười,
Dan tay về chốn trướng mai tự t́nh.

2285. Tiệc bày thưởng tướng khao binh
Om tḥm trống trận, rập ŕnh nhạc quân.
Vinh hoa bơ lúc phong trần,
Chữ t́nh ngày lại thêm xuân một ngày.

2036. Chiêu ấn: Tên ngôi chùa, nghĩa là chiêu nạp những người ẩn dật.
.


2038. Trụ tŕ: Cư trú và chủ tŕ mọi công việc trong một ngôi chùa.
.


2043. Tiểu thiền: Cũng như tiểu tǎng, là người đi tu nhỏ mọn (Lời Kiều tự khiêm).
.


2044. Qui sư, qui phật: Theo thầy, theo Phật, cũng như nói "qui tǎng, qui phật".
.


2045. Bản sư: Vị sư thầy học ḿnh.
.


2046. Pháp bảo: Chỉ các đồ thờ cúng quư giá.


Sư huynh: Vị sư đàn anh, lời xưng hô giữa các vị sư với nhau.
.


2047. Diện kiến: Đem dâng ngày trước mặt.
.

 


2050. Hằng Thuỷ: Tên hiệu một vị sư nữ khác mà Kiều mạo xưng là thầy học ḿnh.


Hầu t́nh: T́nh nghĩa đối xử hậu hĩ, thân mật.
.

 


2053. Am mày: Do chữ Vân pḥng, chỗ ở nhà sư ở.
.

 


2059. Thông tuệ: Thông minh, sáng suốt;
.


2062. Vẻ ngân: ánh bạc, ánh trǎng sáng như bạc.
.


2064. Đàn việt: Người đứng ra bố thí, thường thường để chỉ người có công với nhà chùa, hay người đi văn cảnh chùa.


Cửu già: Tiếng Phạn gọi chùa là già lam.


ở đây ư nói ngồi chờ nước đến chân rồi mới nhảy là khờ dại.
.


2088. Đồng môn: cùng học một thầy, một trường, ư nói Bạc hà cũng một phường chủ lầu xanh như Tú bà.
.


2096. Tục ngữ: Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. ở đây mượn ư ấy để nói Thuư Kiều đă mang tiếng trốn chúa và ǎn cắp, thế nào cũng bị người ta dị nghị.
.


2097. Oan gia: Bạc bà địa đặt ra mà nói Kiều là một oan gia kiếp trước vào nhà ḿnh để chực gây tai hoạ cho ḿnh.

Phá gia: Phá nhà.


2099. Xe dây: Cũng như xe tơ, nghĩa là lấy chồng.
.

.
2108. Thành thân: Làm lễ hợp hôn, thành vợ chồng.


Châu thai: Chỗ Bạc Hạnh buôn bán, thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).
.

.
2118. Cổ ngữ: Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc nhi cao phi, nghĩa là con chim đă bị thương v́ cung th́ thấy cái cong cũng sợ mà bay cao.
.


2123. Sở cầu: Cầu đến, hỏi đến, ư nói muốn cưới làm vợ.


2124. Tân minh: Lấy ḷng thực mà thề với nhau.


2132. Thành hoàng thổ công: ư nói: Bạc Hạnh thề rằng: Nếu ḿnh không tốt với Kiều th́ xin thành hoàng, thổ công chứng giám.

.
2134. Lễ tơ hồng: Tức là Nguyệt lăo, vị thần xe dây cho người nên vợ nên chồng.
.

.
2139. Hành viện: Tên gọi khác của nhà chứa.
.

.
2151. Theo nhà thuật số đờ xưa th́ đào hoa làm một hung tịch, chiếu vào cung mệnh con trai th́ bệnh tật, chiếu vào cung mệnh con gái th́ phải làm gái làng chơi.
.

.
2157. Hồng quân: Chỉ con tạo. Hồng quần: Cái quần đỏ, được dùng để chỉ người con gái.
.

.
2164. Mặt phấn: Mặt trát phấn, ư thân phận người con gái.
.

.
2166. Biên đ́nh: Nơi biên ải xa xôi.

2167. Râu hùm, hàm én, mày ngài: Tướng mại của người anh hùng: râu dữ như râu hùm, hàm mở rộng như chim én, mày cong và to như con tằm.

2196. Anh hào: Anh hùng hào kiệt.

2170. Côn quyền: Món vơ đánh bằng gậy.

Quyền: Món vơ đánh bằng tay.

Lược thao: Mưu lược về các dùng binh, do chữ Lục thao, Tam lược là hai pho binh thư đời xưa mà ra.

2172. Việt Đông: Chỉ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) ở về phía đông sông Việt, nên gọi là Việt Đông.
.
2176: Hoàng Sào, một lănh tụ nông dân khởi nghĩa đời Đường, có câu thơ: Bán kiên cung kiếm bǎng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy (chỉ nửa vai cung kiếm mà tung hoành khắp cả gầm trời, chi một mái chèo mà đi khắp cả non sông).

.
2176. Tấm ḷng nhi nữ: ư nói: Người đẹp.

Lầu hồng: do chữ hồng lâu.

.
2179. Tâm phúc tương cờ: Tương cờ tức tương kỳ. Ḷng dạ hứa hẹn với nhau. Từ Hải muốn cùng Kiều kết thành đôi lứa tri kỷ chứ không phải là cái t́nh yêu đương trǎng gió tạm bợ.
.


2182. Mắt xanh: Nguyên Tịch đời Tấn, trọng ai th́ nh́n bằng con mắt xanh, khinh ai th́ nh́n bằng con mắt trắng. Câu này ư nói: Từ Hải hỏi Kiều, xưa nay nàng chưa hề xem trọng ai có phải không?

2184. Cá chậu chim lồng: Chỉ hạng người tầm thường, sống tron ṿng giam hăm câu thúc.


2192. B́nh-nguyên quân: Chính tên là Triệu Thắng, một trong thần nhà Triệu, đời Chiến quốc được phong đất ở B́nh Nguyên nên gọi là B́nh nguyên quân, nổi tiếng là người hiếu khách. Cao Thích đời Đường có câu: Vị trí can đảm hướng thuỳ thị, linh nhân khước ức B́nh Nguyên quân, nghĩa là chẳng biết gan mật hướng vào ai, khiến người ta lại nhớ B́nh Nguyên quân.

2196. Tấn Dương: Tên đất, nơi Đường Cao tổ khởi binh đánh nhà Tuỳ, dựng nên đế nghiệp. Câu này ư nói: Thuư Kiều tin tưởng là Từ Hải sẽ làm nên sự nghiệp đế vương.

2200. Tri kỷ: Người hiểu biết ḿnh.

2202. Trần ai: Bụi bậm, chỉ lúc người anh hùng c̣n ẩn náu, chưa có danh vụ ǵ để phân biệt với người thường.

2204. Ngh́n tứ do chữ thiên tứ, ngh́n cỗ xe chỉ cảnh giàu sang.

2205. ư hợp tâm đầu: Tâm t́nh và ư nghĩa đều tương đắc với nhau.

2208. Nguyên ngân: Số tiền bỏ ra khi trước.

Phát hoàn: Đưa trả lại.

2210. Bát tiên: Tám vị tiên là Chung Ly Quyền, Lă Động Tần, Trương Quả Lăo, Lư Thiết Quái, Lam Thái Hoà, Tào Quốc Cữu, Hà Tiên Cô, Hàn Tương Tử. Người ta hay vẽ h́nh tám vị tiên này trên màn trướng.

2212. Sánh phượng, cưỡi rồng: Xưa Kính Trọng, người nước Tần, được quan đại phu nước Tề gả con gái cho, trong quẻ bói được câu: Phượng hoàng vu phi... (Chim phượng hoàng cung bay). Đời Đông Hán, Hoàng Hiến và Lư Ung là hai người có danh vọng, cùng lấy con gái Hoàn Yến, người đời khen hai con gái Hoàn Yến đều cưỡi rồng. Câu này dùng ư hai điển ấy để nói Từ Hải, Thuư Kiều đẹp duyên với nhau.

2214.Trượng phu: ở đây có nghĩa là đàn ông tài giỏi, có chí lớn.

2219. Tâm phúc tương tri: Biết nhau từ trong thâm tâm, hiểu rơ bụng dạ của nhau.

2220. Nữ nhi thường t́nh: cái tính thông thường của đàn bà, con gái.

2222. Chiêng: Tức chính cổ, chỉ chung chiêng trống. Tinh: Tức tinh kỳ, chỉ chung cờ quạt, tượng trưng cho nghi vệ và đội ngũ quân lính ngày xưa.

2224. Nghi gia: Do chữ nghi kỳ thất gia ở Kinh Thi, ư nói vợ chồng hoà hợp. ở đây, hai chữ nghi gia có nghĩa là gái về nhà chồng.

2230. Bằng : Một loại chim rất lớn. Sách Trang Tử có câu Bằng chi tỉ ư Nam minh đă, đoàn phù dạo nhi thường giả cửu vạn lư (Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay lên chín vạn dặm tầng không). Người ta thường dùng h́nh ảnh ấy để chỉ người anh hùng có địa bàn hoạt động rộng răi, có mưu đồ sự nghiệp lớn lao.

2235. Hán Cao tổ quê ở Phần Du, sau khi làm vua có về làng ấy chơi. Người sau bèn dùng hai chữ phần du để chỉ quê nhà, ở đây hợp với chũ tang tử thành tử phần để chỉ quê nhà.

2236. Thơ Hàn Dũ đời Đường: Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại? Nghĩa là: Mây che ngang núi Tần, biết quê nhà ở đâu? ư nói Kiều nhớ nhà.

2242. ư nói : Kiều tuy dứt t́nh với Kim Trọng, nhưng ḷng vẫn không quên chàng, cũng v́ như ngó sen bị bẻ găy, mà sợi tơ vẫn liền với nhau.

2245. Cố quốc tha hương: Có nghĩa là quê nhà đất khách.


2250. Lửa binh: Do chữ binh hoả nghĩa là giặc giă.

2251. Sát khí : Cái khí dữ dội của cảnh chém giết, thường được dùng để chỉ cảnh binh đao sát phạt.


2252. Ḱnh ngạc : Hai giống cá to, dữ, thường được dùng để chỉ những tay kiệt hiệt trong đám giặc giă. Giáp binh : áo giáp và binh khí, đây dùng để chỉ quân lính.


2260. Phu nhân: Tiếng xưng hô đối với vợ các người tôn quí. Đây chỉ Thuư Kiều.

2263. Cung nga : Gái hầu trong cung, cung nữ. Thế nữ : Loại gái hầu kém cung nữ một bậc, ở đây tác giả dùng những danh từ ấy là có ư xem Từ Hải như một vị đế vương.

2265. Phượng liễn loan nghi: Xe, kiệu và đồ nghi trượng có chạm khắc thêu vẽ h́nh loan, chim phượng.

2266. Hoa quan: Mũ hoa.

Hà y: áo mầu hồng như ràng mặt trời..

2269. Hoả bài: Cái thẻ bài hoả tốc, cầm đi trước để báo tin.

2270. Nam đ́nh: Triều đ́nh phương Nam do Từ Hải lập ra.

Đại doanh: Doanh trại lớn, nơi đóng đại quân của Từ Hải.

2272. Thân nghênh: Tự ḿnh đích thân ra đón.

2273: Cân: Khǎn (mũ); đai: Cái đai ṿng quanh áo lễ. Câu này ư nói Từ Hải lúc này ǎn mặc không phải như lần gặp Kiều khi c̣n hàn vi, mà đă ǎn mặc theo cung cách đế vương.

2275. Cá nước duyên ưa: Do câu ngư thuỷ duyên hài, ư nói vợ chồng đẹp duyên với nhau.

2284. Trướng mai: Trướng có thêu hoa mai, chỉ pḥng nằm của vợ chồng

 

 

Kiu Báo Thù

 

Trong quân có lúc vui vầy,

2290. Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:
Khi Vô Tích, khi Lâm Tri,
Nơi th́ lừa đảo, nời th́ xót thương.
Tấm thân rày đă nhẹ nhàng,
Chút c̣n ân oán đôi đàng chưa xong.

2295. Từ Công nghe nói thủy chung,
Bất b́nh nổi trận đùng đùng sấm vang.
Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng,
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao .
Ba quân chỉ ngọn cờ đào,

2300. Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri,
Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nă bắt về hỏi tra .
Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên .

2305. Mụ quản gia, văi Giác Duyên,
Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời .
Thệ sư kể hết mọi lời,
Ḷng ḷng cũng giận, người người chấp uy !
Đạo trời báo phục chỉn ghê,

2310. Khéo thay ! Một mẻ tóm về đầy nơi,
Quân trung gươm lớn áo dài,
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi .
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.

2315. Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi .
Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi
Điểm