|
|
Hữu
Loan: Từ
“Mầu
Tím Hoa Sim” Đến
“Dao Khúc Cừu
Và C̣”
Nguyễn Mạnh Trinh

1.Hữu Loan: Từ “Mầu Tím Hoa Sim” Đến “Dao Khúc Cừu Và C̣”
Mấy ai, là người Việt Nam mà không biết bài thơ “ Màu Tím Hoa Sim ”. Một
bài thơ trong nhiều thập niên đă được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành những
bài hát làm say mê thính giả từ b́nh dân tới chọn lọc. Bài thơ đă được
nhiều người coi là kiệt tác của thế kỷ 20. Tác giả Hữu Loan đă nói về
bài thơ này của ḿnh, như một phần đời sống của ḿnh:
“Làm sao tôi có thể quên được điều đó. Màu tím hoa sim là màu tang
thương của một t́nh yêu định mệnh t́nh vợ chồng ngắn ngủi mà giờ đây nó
chỉ c̣n lại trong kư ức của riêng tôi. Đó là một mối t́nh ly kỳ nhất và
tôi được là người may mắn nhất do tạo hóa ban tặng. Ngày tôi đặt chân đến
gia đ́nh ông Lê Đỗ Kỳ (sau này là nhạc phụ của tôi) làm gia sư cho ba
người con trai của ông , cũng là ngày vợ ông ấy sinh hạ một bé gái xinh
xắn . Nhưng có một điều khác thường là ở chỗ cô bé không cất tiếng khóc
chào đời như mọi đứa trẻ khác . Gia đ́nh họ mang cô bé đặt lên trên nắp
một cái thùng phuy để cầu nguyện một điều ǵ đó, tôi ṭ ṃ lại ngắm nh́n
th́ cô bé nhoẻn miệng cười với tôi. Lớn lên , tôi đi đâu , cô bé ấy cũng
đ̣i đi theo.
Và c̣n một điều kỳ lạ nữa là khi tôi quay trở lại làm gia sư dạy học cho
chính cô bé sau này là vợ ḿnh , nhà ông tham Kỳ lúc nào cũng có vài ba
mươi người ăn , kẻ ở hầu hạ thế mà cô ta luôn giữ va-ly và không cho bất
kỳ ai giặt quần áo của tôi, mà tự tay cô ấy giặt, là lấy rồi gấp xếp vào
va-ly cho tôi. Cô
bé càng lớn càng đẹp, một vẻ đẹp thánh thiện. Chúng tôi cưới nhau ngày
16/2/1949 th́ đến ngày 29/5 cùng năm đó, vợ tôi tên là Lê Đỗ Ninh mất do
chết đuối khi tôi đang hoạt động cách mạng ở Nưa ( huyện Triệu Sơn,
Thanh Hóa )Đau thương này kéo dài lắm . Và cũng chính v́ lẽ đó nên sau
khi cô ấy mất, tôi có ư định không lấy vợ nữa . Mỗi lần nhớ tới cô ấylà
tôi lại “ khóc “ ra một đoạn của bài thơ “ Màu Tím Hoa Sim” hoàn chỉnh
bây giờ..”
Thế mà , bài thơ “ kiệt tác “ ấy lại là đầu mối những hoạn nạn cho suốt
cả cuộc đời làm thơ. Bị trù dập , bị phê phán , bị kỷ luật , Hữu Loan đă
nói tại sao ḿnh bị hứng chịu những tai ương như vậy:
“.. bởi v́ người ta làm Thơ lúc bấy giờ là phải làm về Đảng , ca tụng
Đảng , ca tụng Cộng Sản, ca tụng cái buôn bán chiến tranh. Bởi v́ cái
đánh nhau là cái dễ kiếm chác lắm. Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy th́
khó kiểm tra lắm cho nên những cái bọn ăn bẩn ấy là bao giờ cũng chủ
trương chiến tranh, buôn bán chiến tranh. Mà tôi th́ tôi thấy đấy là cái
đấy là cái khổ dân nhất nên tôi chống cái ấy hết sức cho nên v́ vậy đă
làm bài Thơ trong lúc bấy giờ một tí là người ta đề cao Hồ Chí Minh,
hai tí là đề cao Hồ Chí Minh. Tôi th́ tôi đề cao T́nh Yêu.., tôi khóc
cái người vợ tử tế với ḿnh, hiếm có với ḿnh. Lúc đó khóc như vậy nó
cho là khóc cái t́nh cảm riêng.. lúc bấy giờ làm Thơ là phải có Hồ Chí
Minh, phải có đảng Cộng Sản.. Lúc bấy giờ tôi làm thơ kể lại bằng thơ
cái chuyện tôi lấy vợ rồi sau đi vào bộ đội th́ ở nhà bà ấy đi giặt rồi
chết đuối ở sông.. Mới lấy nhau được có hơn mấy tháng ấy mà…Thế rồi bà
ấy chết đuối ở sông.. tôi thấy đau xót tôi làm cái bài thơ ấy tôi khóc.
Làm cái bài thơ mà lúc bấy giờ họ cho là “phản động”. Làm thơ là phải
bắt buộc làm về Cộng Sản, làm về bác Hồ chứ không được khóc cái đau
riêng của ḿnh. Cái đau khổ riêng của con người là không được khóc…”
Hữu Loan, một nhà thơ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, người đă phê b́nh
sự dốt nát của các quan “văn nghệ Cộng Sản” bằng h́nh ảnh ví von thật
ác :“Những mắt lợn thưởng tranh. Những tai trâu huấn nhạc.” Và cũng
chính Hữu Loan, tác giả của bài thơ “Màu tím hoa sim”, người đă không
thèm cầm bút theo sự chỉ huy của chính quyền chuyên chế, về cày ruộng
thồ đá, lao động như một nông dân chính hiệu.
Nhà thơ Hà Thượng Nhân đă có những câu thơ viết về Hữu Loan như:
“.. Nguyễn hữu Loan
hồn nhiên như con trẻ
đơn sơ như miệng cười
dám chân thành làm một con người
giữa băo tố quyết không là cây sậy
chỉ biết cúi đầu vâng lời lẽ phải.
Với bạn bè ǵn giữ thủy chung
Đỗ Phủ xưa dù lớn vô cùng
Nguyễn Hữu Loan không chịu là Đỗ Phủ
Ba mươi mấy năm chân trần lam lũ.
-Đói không Loan?
Khổ không Loan?
Tao chẳng khổ bao giờ
Tao đi cày như tao làm thơ
-Mày đi cày v́ mày dám làm thơ.
Thơ vĩ đại v́ thơ không đánh đĩ
Bọn dối trá chẳng thể là thi sĩ
Kiệt Trụ đừng nói chuyện thi ca.
Nhớ nguyễn Du xưa rau cháo xanh da
Nửa tháng ốm không có tiền mua thuốc.
Không cần thép thơ vẫn thành bó đuốc.
Thơ nâng người cao sát với thần linh…”
Thơ, đối với Hữu Loan cũng như một số người, là cứu cánh để tồn tại và
sống c̣n trong những hoàn cảnh bi đát nhất . Tương tự như, những người
bị giam hăm trong pḥng biệt giam, chung quanh là không khí u trệ hắc
ám, nh́n đời sống toàn màu đen, nếu không có óc tưởng tượng để vượt trên
những chấn song của những tâm hồn thi nhân th́ có lẽ khó sống c̣n nổi
trong những điều kiện sinh hoạt vô cùng ngặt nghèo. Hay, những người bị
cả một chế độ khủng bố, bao vây kinh tế, theo dơi tư tưởng, cả đời lao
đao. Không những chỉ một cá nhân cam chịu riêng ḿnh mà c̣n cả gia đ́nh
thân quyến cũng chịu ảnh hưởng lây. Có những người vẫn an nhiên sống bất
chấp đấy ải . Nhưng cũng có những người không gượng dậy nổi trước những
đè nén đôi khi vượt khỏi sức chịu đựng của con người. Thơ, như ví von
của Phùng Quán , là gậy chống để gượng đứng dậy và tiếp tục đi….
Với Hữu Loan, ông có cách xử thế cương cường. Bỏ Đảng, bỏ Việt Quốc
Quân, bỏ chức vụ , bỏ quyền lợi, không thèm xin phép , ông về quê ,
sống đời vất vả của một nông dân:
“Năm 1956, tôi không ở nữa mà tôi bỏ tôi về thẳng, bỏ Đảng, bỏ cơ quan
để trở về nhà đi cày, đi thồ. Cánh ấy không cho bỏ bắt tôi phải xin bắt
tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin , tôi có cái tự do của tôi.. Cái
chuyện bỏ Đảng , tôi muốn bỏ là tôi bỏ không ai bắt buộc được.Tôi bỏ tôi
về, tôi cứ về..Tôi phải đi cày, đi bừa , đi đốn củi đưa về, đi thồ, đi
xe đá để bán th́ nó hành tôi đủ cách. Xe nó không cho đi xe, nó bắt xe
đến nỗi sau cùng đi xe không được tôi phải đi xe cút kít. Tôi tự lam
2lấy cái xe cút kít rôi đi. Thế mà xe cút kít nó cũng không cho, nó xui
người bắt bánh xe không bán cho tôi nữa.Có lần tôi phải gánh bộ, gánh
bằng vai, tôi cũng cứ nhận để cho tôi gánh.Tôi cứ gánh, tôi cú làm ,
không bao giờ tôi chịu khuất phục.Vợ con nó có vẻ oán hận tôi lắm cho
rằng tại tôi bướng bỉnh cho nên làm chúng nó khổ.Thế nhưng mà tôi cứ làm
đủ mọi thứ.. không có cái ǵ là không làm , chỉ có cái hại người là tôi
không bao giờ hại, cón cái ǵ tôi cũng làm hết.Làm th́ nó theo dơi , nó
ngăn cản, nó t́m cách làm hại ḿnh. Nhưng mà, cái chuyện vẫn có là có
Trời , và chẳng bao giờ nó hại được tôi, dù rằng đi đến đâu cũng có Công
an mật theo dơi hết. Chỗ nào cũng cho người hăm hại tôi, nhưng mà lần
nào như vậy th́ lại có người cứu giúp. Có một cái lạ là những bài Thơ
của tôi ấycó bài đă cứu sống tôi. Bởi v́ lắm khi người ta bố trí công an
mật đi để giết tôi th́ lắm khi người ấy không nỡ giết v́ yêu thích thơ
tôi..”
Nh́n lại những biến cố văn học Việt Nam, từ xưa đến nay, có những người
v́ án văn tự mà bị chu di tam tộc. Đó là thời quân chủ phong kiến. Chế
độ Cộng Sản có những cái án mà không thành án, suốt đời đeo đẳng, Thí
dụ, vụ án “Xét lại” , vụ án “ Nhân Văn Giai Phẩm “…Sự tàn bạo, khốc liệt
không thua ǵ đời phong kiến , nếu không nói là thâm độc hơn.
Thời kháng chiến hay khi vào tiếp thu miền Bắc, Đảng Cộng sản vẫn một
chủ trương văn nghệ chỉ huy, văn chương phục vụ chính trị. Từ đề cương
văn hóa “ Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt nam” của Trường Chinh Đặng Xuân
Khu đọc trước Hội Nghị Văn hóa ở chiến khu Việt Bắc năm 1948 trở về sau,
một đường lối cực đoan bảo thủ được thi hành với tất cả những biện pháp
khắc nghiệt dành cho những ai muốn đi ra ngoài cương lĩnh ấy.
Năm 1955, nội t́nh miền Bắc nhiều rối ren. Phong trào cải cách ruộng đất
rập khuôn Trung Quốc đă gây ra biết bao nhiêu oan khuất và sự phẫn nộ
của dân chúng lên cao đến nỗi phải phát động chương tŕnh sửa sai để làm
giảm bớt căng thẳng. Văn nghệ cũng nhân theo đó mà nêu ra những khiếm
khuyết của lănh đạo , xoáy vào những bi thảm mà chính sách cải cách
ruộng đất gây ra. Để đ̣i hỏi những mục tiêu tự do cầm bút.
Những nhà văn như Trần Dần , Lê Đạt, Hoàng Cầm , Văn Cao, Nguyễn Hữu
Đang, Phùng Quán, Hữu Loan … cùng chia sẻ một chủ trương chống lại chính
sách chỉ huy văn nghệ của Đảng. Những Nhân Văn Giai Phẩm Mùa Xuân,Giai
Phẩm Mùa Thu với những bài thơ và truyện ngắn đă gây ra những dư luận
sôi nổi với sự đồng t́nh của mọi giới từ trí thức đến b́nh dân.
Mục tiêu đầu tiên là phê phán Tố Hữu một cai thầu văn nghệ với tập thơ “Việt Bắc” được coi như là đỉnh cao thi ca của nền văn học hiện thực xă
hội chủ nghĩa. Cũng như, văn nghệ sĩ đ̣i quyền được tự do sáng tác,
không muốn bị giam hăm trong vai tṛ minh họa cho chế độ. Tham ô, lăng
phí, cửa quyền, bất công, … tất cả những tiêu cực của chế độ được đề cập
đến cũng như vai tṛ của những ông b́nh vôi , những cây đa cây đề của
văn nghệ bị lột trần trong vai tṛ văn nô hèn hạ.
Theo nhà thơ Lê Đạt một người cột trụ của Nhân Văn Giai Phẩm trả lời bà
Thụy Khuê của đài RFI mới đây th́ thực hiên giai phẩm là một việc làm tự
phát chứ không ảnh hưởng từ những biến cố ở Liên Xô và Trung Hoa. Nhân
Văn Giai Phẩm Mùa Xuân xuất bản tháng giêng năm 1956 trong khi cuối
tháng 2 cùng năm th́ Đại Hội lần thứ 20 Đảng Cộng Sản Liên Xô phục hồi
danh dự cho các văn nghệ sĩ bị giết hại hoặc đấy ải dưới thời Stalin.
Đến tháng 5 , Mao Trạch Đông phát động chiến dịch “ Trăm hoa đua nở,
trăm nhà đua tiếng”. Năm 1956 quả là một năm đầy biến cố cho các chế độ
Cộng Sản trên toàn thế giới.
Dĩ nhiên, ở Việt Nam, cả bộ máy chuyên chế không nương tay trong việc
trừng phạt và dẹp tan những tư tưởng phản động chống đối. Tự phê, tự
kiểm, một không khí khủng bố lan rộng trong giới văn nghệ sĩ. Trần Dần
là một người hứng chịu những trừng phạt khủng khiếp nhất, không có án
văn tự nhưng ghê khiếp với những hậu quả cho cả vợ con và gia đ́nh. Ông
bị Đảng không cho phép kết hôn với bà Bùi thị Ngọc Khuê là người có gia
đ́nh di cư vào Nam và thuộc giới tư sản địa chủ. Ông bất chấp và xin ra
khỏi quân đội cũng như bỏ sinh hoạt Đảng đoàn.V̀ những bài thơ chống chế
độ. Oâng bị bắt giam, có lúc uất ức cứa cổ tự sát. Họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ
chân dung một người có vết sẹo trên cổ ám chỉ Trần Dần và bị kết tội
“Bọn Nhân Văn”. Lúc đó , bị gán cho nhăn hiệu ấy là một tội danh chết
người.
Trần Dần bị kết tội là đồ đệ của Hồ Phong , một nhà văn đă viết bức thư
ngỏ gửi Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa phê phán “năm
lưỡi dao” đâm vào tim óc các nhà văn , bị bắt giam và đầy đọa tới chết
trong những trại lao cải tàn khốc. Thế là, cả đời của nha ø thơ Trần
Dần và gia đ́nh rơi vào t́nh trạng vô cùng khốn khổ. Gia cảnh nheo nhóc,
con cái học hành dang dở tuy thông minh hiếu học nhưng v́ cái án treo
Nhân Văn lơ lửng . Bị bao vây kinh tế, ông suốt đời như cái bóng âm thầm
, nhiều người thương t́nh muốn giúp đỡ mà không dám sợ bị tội liên quan. Như thế ai mà cả gan dám quan hệ với Trần Dần sẽ bị hậu quả ngay. Vậy
, vẫn có một người đă dám công nhiên chia sẻ bằng thi ca. Đó. Tác giả “
Màu tím Hoa Sim” . Hữu Loan.
Hữu Loan, một kiện tướng văn nghệ với bài thơ “ Màu tím hoa sim”mà người
yêu thơ cả hai miền Nam Bắc truyền tụng hay truyện ngắn “ Lộn Ṣng” đăng
trên Giai Phẩm Mùa Đông năm 1956 đă gây ra những chấn động cho chế độ
miền Bắc. Hơn thế nữa, ông là một người kiên cường, từ bỏ tất cả để về
quê ông ở Thanh Hóa làm ruộng, đi cày, thồ đá, sống thanh bạch. Bị đày
về quê nhà, đóng vai tṛ nông dân, ông phải cày bừa, kéo những xe chở đá
nặng nề khổ sở như những người bị lao động khổ sai . Đảng cố t́nh đầy
đọa ông và gia đ́nh suốt ba chục năm trường mà ông vẫn kiên cường chịu
đựng. Về sau này, khi chế độ bị bắt buộc phải thay đổi đường lối cực
đoan, th́ nhiều nhân vật trong giới lănh đạo văn nghệ đến ve vuốt theo
lệnh Đảng để lợi dụng danh tiếng và tài năng của ông. Ông vẫn giữ mực
thường tiếp đăi, tự nhiên không cay đắng không xun xoe. Trong mọi thái
độ vẫn giữ tính chất của kẻ sĩ. Hữu Loan đă nói với cái tâm kẻ sĩ khi
trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC:
“Tôi là thằng thích được tự do mà bảo vệ tự do của tôi, với tự do của
ḿnh và tự do của dân tộc, tự do của mọi người. Tôi thấy ai mất tự do
th́ tôi bênh vực cái người ấy và tôi cũng không bao giờ để cho tôi mất
tự do.như là tôi làm những cái mà… bao giờ cũng làm cái đạo đức tức là
thương người. Thấy đói th́ thương, ai rách th́ cho mà ai bị áp bức th́
binh vực. Nhưng mà có một cái là không ai có thể áp bức tôi được.
Áp
bức là tôi chống lại. Chống bất cứ ai mà ngay cả đến cần phải đánh nhau
với cả hàng lũ người mà làm tôi mất tự do tôi cũng chống alị và nếu cần
đánh là cũng phải đánh.
Thấy t́nh cảnh của gia đ́nh Trần Dần, Hữu Loan viết tặng bạn bài thơ “
Dao khúc : cừu và c̣ “ với những ví von ẩn dụ. Hữu Loan đă mang câu ca
dao “ con c̣ mà đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…” vào thơ
ḿnh với h́nh ảnh nhiều nỗi niềm.
Vẽ h́nh ảnh của Trần Dần bằng những câu thơ :
“ .. Bố C̣ chỉ ngồi
nằm hay đứng
không đi
Phong Ác bắt
Cứ đi
Là phải
Đi c̣m…“
Vẽ h́nh ảnh của bà vợ Trần Dần, một nhân dáng tội nghiệp v́ chồng v́
con mà hy sinh với chịu đựng biết bao nhiêu khổ nạn:
“ C̣ Mẹ kiếm ăn
trên cạn
giữa những nơi hôm qua c̣n là băi chiến trường
dẫy đầy ḿn bom
nổ rồi
chưa nổ
giữa đế dép nát, giày hư, vỏ rum, Bồ đào, Vốt ka hảo hạng
hộp sữa, hộp bơ
cặn bă phù hoa
từ yến tiệc lầu cao quẳng xuống
( nước miếng dào lên
chát đắng
trong mồm )
Vẽ h́nh ảnh của những đứa con :
“ … C̣ Bé không thương th́ ai thương mẹ?
C̣ Bé c̣n thương cha
Và suốt đêm thức vẽ
Bé vẽ cha
Một mắt
Mầu đỏ mưa sa
Trên h́nh chữ nhật
Đồng tử vàng tang
Đưa ma
Phố sập
Vẽ cổ cha
Gân to
Kim ấn
Vắt ngang!
- lập thể Picasso?
- Cubitsm C̣ con
Chưa có C̣ đâu
Khi có
“ vấn đề bố C̣”
đăng trang đầu
“ Đây “ Nhân Dân” Số 1…”
và phác họa một thời đại của những con cừu non với những bánh vẽ của
một chế đo độc đoán :
“ .. bọn nghệ nô
đem hết tài
khuyển
mă
tạo mầu
tạo thanh
gây ảo
tối
đa
hay hiện thực quái thai
thảo nguyên âm thanh
thảo nguyên áp phích
xanh mướt
mênh mông
ngon mắt
ngon tai
đến tận thiên hà!
( chỉ không ngon miệng)
v́ thèm quanh năm
( như tội tổ tông )
được gậm
được nhai
được tiêu hóa
dần
một bữa
no
có
thật…”
Bài thơ khá dài, Hữu Loan đă so sánh hai phận người, một con c̣ lặn lội
bờ sông và một những con cừu cam chịu phận hèn, ở trong ‘khuôn “ th́
phải “ khổ “.
Thơ Hữu Loan như những âm thanh gợn lên từ những xúc cảm từ nỗi uất hận
từ những trái tai gai mắt của một thế kỷ nhiễu nhương. Câu kết như một
lời “ ai điếu cho một nền văn chương minh họa”
“.. Tiếng người hát
trong không thời gian
vang vọng
(xùi xụt mưa thu điệp khúc
Chiêu Hồn )
Những thân C̣
Từ nguyên thủy
Việt Nam
Hỡi người C̣
Thời văn minh Cộng Sản
Vị dương gian tối cao
Đội trưởng
Đội
Thập loại chúng sinh C̣.
Hữu Loan đă làm một công việc của một người thấy sự bất bằng mà lên
tiếng. Đă có kinh nghiệm sống với cộng sản , ông cũng thừa hiểu những
tṛ trả thù của chế độ. Nhưng, có hề ǵ, đă hơn ba mươi năm trong ḷ
luyện ngục th́ xá ǵ thêm một chút đ̣n hằn!!!
Màu
Tím Hoa Sim
Hữu
Loan

Nàng có ba người anh
đi bộ đội
Những em nàng
có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
***
Tôi người Vệ-Quốc-quân
xa gia đ́nh
Yêu nàng
như t́nh yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đ̣i may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
cưới nhau xong là đi.
***
Tự chiến khu xa
nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến binh
mấy người đi trở lại !
Nhỡ khi ḿnh không về
th́ thương
người vợ chờ bé bỏng chiều quê
***
Nhưng không chết người trai khói lửa
mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
má tôi
ngồi bên mộ con
đầy bóng tối
Chiếc b́nh hoa ngày cưới
thành b́nh hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi ! Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông nhau
một lần...
***
Ngày xưa
nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng
màu tím hoa sim
Ngày xưa
đèn khuya bóng nhỏ
nàng vá cho chồng
tấm áo ngày xưa! ...
***
Một chiều rừng mưa
ba người anh
tự chiến trường Đông Bắc
biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng!
Gió thu về rờn rợn nước sông
đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nh́n ảnh chị
Khi gió thu về
cỏ vàng chân mộ chí !
Chiều hành quân
qua những đồi hoa sim
những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
dài trong chiều không hết .
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt ...
***
Có ai ví như từ chiều
ca dao nào xưa xa:
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu"
***
Ai hát
vô t́nh hay ác ư với nhau
Chiều hoang tím
có chiều hoang biết
Chiều hoang tím
tím thêm màu da diết ...
nh́n áo rách vai
tôi hát trong màu hoa :
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm ...!
Màu tím hoa sim tím
T́nh tang lệ rớm ...
***
Ráng vàng ma và sừng rúc
điệu quân hành
Vang vọng chập chờn
theo bóng những binh đoàn
biền biệt hành binh
vào thăm thẳm chiều hoang màu tím...
***
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu?
- áo anh nát chỉ dù ... lâu!
Trích từ
http://vantuyen.net/ |