|
Kiến Thức Khi Dùng Tiếng Việt
Khi c̣n trẻ, tôi từng bị ông chú họ chê dốt, nói tiếng Việt trật
bậy. Mặc dù bị chạm tự ái, tôi vẫn thấy ông chú nói đúng. Thứ
nhứt, ông là người từng ra vào Cửa Khổng Sân Tŕnh nên chữ Nho
ông giỏi lắm. Tôi không học chữ Nho nên bị ông chê là phải. Thứ
hai, tôi cũng thiếu cẩn thận khi viết và nói. Hồi bấy giờ, những
bài tôi viết đăng báo thường bị ông chê hơn là khen: Chê ở tŕnh
độ kiến thức kém, nên hiểu sai, viết sai. Thứ hai, không cẩn
trọng khi dùng danh từ, và đánh dấu, nhứt là dấu hỏi (?), dấu
ngă (~)
Sợ bị chê là dốt, tôi cố t́m học trong “Rừng Nho Biển Thánh”,
nói nôm na là t́m sách nói về chuyện xưa mà đọc, chẳng hạn như
Khổng Học, Đạo Học, Mặc Tử, Bách gia chu tử, v.v... Cái nầy đúng
là “rừng” và “biển”. Chỉ một cuốn “Khổng Học Đăng” của cụ Phan
Bội Châu do nhà Anh Minh Huế xuất bản, đọc đă thấy mù mịt, chẳng
hiểu được ǵ. T́m cuốn Nho Giáo của Trần Trọng Kim, tưởng dễ hơn,
cũng đành chịu. Đọc sách nầy là phải có thầy, không có thầy là...
thua trăm phần trăm.
Để đơn giản hóa công việc đọc sách và cũng mau tiến bộ hơn, tôi
đem tự điển ra học. Các loại “Điển Tích Tự Điển”, “Điển Cố Từ
Điển”, giúp chúng ta t́m hiểu văn chương, văn học thời cũ nhanh
lắm, nhưng có hai cái dở:
Một là, hiểu tràn lan mà không sâu. Có nghĩa là nhờ từ điển,
chúng ta biết chuyện nầy, chuyện kia, điển tích, điển cố nhưng
ít có tự điển nào giảng giải cho sâu rộng như kiểu “Bách Khoa Tự
Điển” của Tây.
Thứ hai, không có tự điển nào đầy đủ cả. Những Tự Điển in trước
1945 th́ hiếm thấy, lại không thấy in lại, nhất là khi tác giả
c̣n ở ngoài Bắc. Vĩ tuyến 17 kín lắm, làm sao liên lạc xin bản
quyền tác giả. Vả lại, giả tỉ như có liên lạc được với tác giả,
cũng không chắc tác giả dám đồng ư cho in. Lớ ngớ bị Cộng Sản
chụp cho một chục cái mũ “liên lạc làm tay sai Mỹ-Ngụy” lên đầu
th́ khốn. Măi đến sau 1975, đi tù cải tạo về, lang thang các nhà
sách Saigon, sách chợ trời, tôi mới thấy ngoài Bắc có cho in lèo
tèo vài cuốn sách cũ, loại vô thưởng vô phạt như tự điển điển cố,
soạn từ trước 1945. Vả lại, ngoài Bắc họ không có nhu cầu sử
dụng loại từ điển nầy. Học tṛ ngoài ấy, không học Kiều, Chinh
Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Tỳ Bà Hành, v.v... nên đâu cần
loại từ điển điển tích.
Trong Nam, hồi ấy, ông Bửu Kế soạn cuốn “Tầm Nguyên Tự Điển” là
quí lắm, bởi v́, không hiểu điển tích th́ làm sao hiểu được thi
ca của ông bà chúng ta ngày xưa.
Các tác phẩm xưa như tôi nói qua ở trên, có cái nào là không có
điển tích. Ít dùng điển tích nhứt là truyện Kiều của Nguyễn Du,
dùng nhiều điển tích nhứt là Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu.
Dùng điển tích - theo tôi nghĩ -, hồi xưa, như một “thời trang”.
Càng nhiều điển tích chứng tỏ rằng ḿnh hiểu biết nhiều; cũng
như bây giờ, người ta viết trích dẫn nhiều tư tưởng của ông Pháp,
ông Đức, ông Mỹ, ông Nga, v.v... để chứng tỏ rằng th́ là ta đây,
tŕnh độ cao, đọc nhiều, biết nhiều, cũng lắm Tây tà!
Cũng có thể v́ dùng nhiều điển cố, nên tác phẩm đâm ra kó hiểu,
khó lôi cuốn người đọc. Do đó, Cung Oán Ngâm Khúc không được phổ
biến sâu rộng như truyện Kiều. Dạy Cung Oán Ngâm Khúc cho học
tṛ lớp Đệ Tam - lớp 10 bây giờ - tôi thấy có điều buồn cười:
Giảng hết các điển tích cho học tṛ hiểu được đoạn thơ trích
giảng th́ đă...hết giờ, làm sao có th́ giờ nói thêm tư tưởng,
t́nh cảm, v.v... tác giả gởi gắm trong đó.
Chỉ vài câu mở đầu, đă thấy mệt v́ điển tích:
Trải vách quế, gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oan chi những khách tiêu pḥng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
Thầy giáo phải giảng: vách quế, gió vàng, vũ y, oan chi (Có sách
viết là oán chi), khách, tiêu pḥng, phận bạc má đào.
Trong khi giải thích về những điển cố, với những chữ như oan chi
(oán chi), hay phận bạc má đào, không thể không nói qua về nhân
sinh quan của người xưa.
Không phải cuốn tự điển nào nào cũng đầy đủ. Cuốn nào cũng thiếu.
Như tôi nói ở trên, cuốn Tầm Nguyên Từ Điển của ông Bửu Kế hay
lắm. Tác giả là người có tŕnh độ cao về cả kim văn lẫn cổ văn,
nhưng khi soạn từ điển, không thể nào soạn thật đầy đủ các điển
cố, thành ngữ, từ ngữ.
Có lần tôi giảng cho học tṛ mấy câu trong Tỳ Bà Hành, tới câu
“Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn giây”(1). T́m trong từ điển của
Bửu Kế không thấy điển tích “xé lụa”, bèn vào Thư Viện Đại Học
Huế xin gặp ông. Bấy giờ ông đang làm giám đốc thư viện nầy. Ông
ấy là người rất hiền ḥa và nhiệt t́nh. Sau khi nghe tôi tŕnh
bày, ông giảng cho tôi nghe một thôi về điển tích nàng Bao Tự, -
một trong “tứ đại giai nhân” (Bốn người đàn bà đẹp nhứt trong
lịch sử Trung Hoa) - trong Đông Châu Liệt Quốc. Ông cụ có trí
nhớ tuyệt lắm nhưng v́ tôi th́ dốt mà ông th́ nói nhiều quá nên
tôi chẳng nhớ được ǵ, bèn mượn ông cuốn Đông Châu Liệt Quốc đem
về nhà đọc cho kỹ.
Bỏ phần nói về gốc tích Bao Tự, tôi trích lại đoạn nói về tiếng
cười đáng giá ngàn vàng như sau:
“Nghĩ như vậy bèn thỏ thẻ hỏi Bao-tự:
- Đờn ca như thế không làm cho ái-khanh vui sao?
Bao-tự đáp:
- Tâu Bệ-hạ, thần thiếp nhớ lại tiếng xé lụa trước đây c̣n vui
tai hơn là tiếng âm nhạc.
U-vương cả mừng nói:
- Ái-khanh ưa nghe tiếng xé lụa, sao ái-khanh không nói cho sớm.
Nói rồi truyền quan giữ kho mỗi ngày đem vào cung một trăm tấm
lụa, lại khiến các cung-nữ khỏe mạnh thay phiên nhau xé để làm
vui Bao-tự.
Nhưng quái thay! xé đến bao nhiêu lụa vẫn chưa thấy Bao-tự cười
một tiếng nào.
U-vương lo lắng, hỏi:
- Đă ưa tiếng xé lụa, và lụa cũng đă xé rất nhiều, sao trẫm chưa
thay ái-khanh vui.
Bao-tự mặt lầm-ĺ không đáp.
U-vương se thắt cơi ḷng nói:
- Thế nào trẫm cũng t́m cách làm cho ái-khanh cười lên một tiếng.
Bèn ra lệnh khắp triều thần, ai có kế ǵ làm cho Bao-tự cười lên
một tiếng sẽ được thưởng ngàn vàng.”
(Trích trong Đông Châu Liệt Quốc)
Hồ Xuân Hương có câu thơ: “Văn chương chẳng phải là đơn thuốc,
Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu.”
Bây giờ, viết đơn thuốc quan trọng hơn viết văn chương. Viết văn
chương trật trúng cũng chẳng mấy ai lên tiếng, c̣n bác sĩ viết
đơn thuốc sai th́ ở tù dễ như không hay có khi phải đền mạng cho
bệnh nhơn. Xưa th́ khác, “Văn chương chẳng phải là đơn thuốc”
nên phải viết cẩn thận hơn.
Người xưa viết văn, làm thơ th́ người ta buộc là “Gọt từng chữ,
đẽo từng lời”. T́m cho được một chữ mà đem dùng rồi th́ không ai
t́m chữ nào thay thế được nữa. Người xưa vẫn lấy sách Lă Thị
Xuân Thu mà chứng minh điều họ nói. Ông Lă Bất Vi cho viết cuốn
sách nhan đề Lă Thị Xuân Thu rồi đem treo ở cửa thành, thách
rằng ai thêm hay bớt được một chữ ông cho một ngàn lạng vàng.
Vậy mà không ai sửa được sách. Điều đó chứng tỏ người xưa họ
viết lách kỹ lắm, không như đời bây giờ. (2)
Trước 1975, tôi thường thấy người ta hay nói và dùng chữ “miên
viễn”. Quả thật tôi không rơ chữ nầy lắm. Theo nghĩa thông
thường th́ miên là ngủ, như trong Giọt Lệ Thu của bà Tương Phố
có câu: “Giấc cô miên trằn trọc suốt canh dài”, ư nói đêm nằm
một ḿnh nhớ chồng, ngủ không được. C̣n viễn có nghĩa là xa xôi,
như viễn xứ là xa xứ, viễn chinh là đi đánh giặc xa xứ, v.v...
c̣n miên viễn th́ nghĩa làm sao. Bèn tra tự điển th́ thấy miên
có một nghĩa khác, miên là dài như triền miên chẳng hạn. Miên
viễn là xa xôi lâu dài.
Trong văn chương trước 1945, ít khi người ta dùng hai tiếng miên
viễn. Bỗng cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, đọc đâu cũng thấy
miên viễn, nhất là trong thơ. Hai chữ nầy bỗng trở thành thời
thượng.
Khi viết văn hay làm thơ, hạn chế việc theo thời thượng. Nó như
nữ trang, hết mùa người ta đem cất, vài chục năm sau mới xài lại
cái mốt cũ. Vả lại, cái thời thượng, dùng riết rồi nguời ta
chẳng biết nó ư nghĩa ra làm sao cả. Dùng nhiều quá, có người
lại không cẩn thận, thành ra cái nghĩa gốc của nó sai lạc mất.
Cũng có một tâm lư nữa, nhiều quá hóa nhàm. Người nầy dùng miên
viễn, người kia cũng miên viễn, người nọ cũng miên viễn, nghe
măi nản lắm.
Trước 1945, tôi thấy một chữ chỉ có một ḿnh Nguyễn Tuân dùng,
trong cuốn Thèm Đi. Chỉ một ḿnh ông ta, không có người thứ hai.
Đó là chữ “Thiên Nhai”, Nguyễn Tuân viết là “Tiếng gọi của thiên
nhai” trong cuốn sách nói trên.
Thiên nhai, theo Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh có nghĩa là:
Thiên nhai: Chân trời = Miền đất xa xôi. Thiên nhai địa dác (giác):
Chân trời góc biển. Miền rất xa xôi.
Chữ nầy hay, ngoài Nguyễn Tuân không ai dùng nên khi dạy cho học
tṛ, giảng về “Vang Bóng Một Thời”, tôi có nói qua về cá tính
Nguyễn Tuân và cuốn “Thèm Đi” của ông. Nguyễn Tuân có máu “giang
hồ vặt” nên ưa đi xa, nghe như ở tận cuối chân trời có tiếng réo
gọi ông ta đi. Có lẽ v́ vậy mà ông ta dùng hai tiếng Thiên nhai.
Khoảng hơn chục năm trước, khi tôi c̣n viết bài trên giấy và gởi
cho một tờ báo ở Virginia. Ṭa báo phải đánh máy bài của tôi và
tiếng Thiên Nhai họ đánh thành Thiên Thai. Như vậy th́ khác ư
mất rồi. Nghĩa của thiên nhai và thiên thai khác nhau xa lắm.
Việc nầy làm tôi nhớ năm tôi học Việt Văn lớp Đệ Lục với nhà văn
Đ́nh Ngân, tác giả tập truyện ngắn Phong Lan, ông có dặn đừng
dùng những tiếng lạ, chữ lạ. Chúng ta viết cho độc giả đọc. Độc
giả đọc mà không hiểu th́ đó là sự thất bại của ta.
Đó là tôi nói cách dùng chữ. Một chữ lạ, độc giả khó hiểu, ít
người hiểu th́ không nên dùng. Thế c̣n những người viết rất khó
hiểu th́ sao?
Việc nầy, xin nói ở bài tới…
Tham khảo thêm tài liệu
(1)
Tả tiếng đàn của người kỷ nữ trên bến Tầm Dương, có mấy câu sau:
B́nh bạc vở tuôn đầy mặt nước
Ngựa sắt rong sàn sạt tiếng đao
Cung đàn lựa khúc tiêu tao,
Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn giây
(Nguyên tác Tiếng Tàu: Bạch Cư Dị.
Dịch ra văn Nôm: Phan Huy Vịnh)
(2)
Lă Thị Xuân Thu
là sách do ông Lă Bất Vi đứng đầu một nhóm người soạn ra. Sách
nầy nói về việc trị nước, coi như kim chỉ nam của Tần Thủy
Hoàng. Tần Thủy Hoàng chính là con đẻ của Lă Bất Vi nên ông để
hết tâm ư vào việc gầy dựng ngai vàng cho con. Tuy nhiên, sau v́
bị tội, Lă bị trục xuất khỏi kinh đô. Đoạn nói về việc thách
thức người đời sửa sách Lă Thi Xuân Thu như sau. Thực ra, theo
thâm ư của Lă, đây là cuộc “Trưng cầu dân ư” về cuốn sách của
ông mà thôi.
Một ngày mùa hè năm 239 trước công nguyên, một tin tức mới được
loan báo ở thành Hàm Dương. Ai có thể thêm hoặc bớt một chữ
trong “Lă thị xuân thu” do các môn khách biên soạn cho Lă Bất Vi
sẽ được hưởng ngàn vàng. Nghe nói mấy vạn tấm thư và hàng ngàn
vạn vàng ấy được đặt sáng loáng trước cổng thành Hàm Dương.
Ngàn vạn lượng vàng thật khiến người ta bị mê hoặc! Cả thành
giống như nước nồi cần sôi bùng lên vậy. Mọi người bàn luận xôn
xao, bảo cho nhau biết. Ước vọng phát tài khiến cho nhiều người
phải xúc động đến độ nước mắt phải tuôn trào. Thêm bớt một chữ
sẽ được ngàn vàng thật là một chuyện dễ dàng mà trên trời hay
dưới đất đều khó mà t́m thấy. Lại cũng có người lắc đầu không
tin. Thêm bớt một chữ nào phải như Ngu Công dời núi, Tinh Vệ lấp
bể, nào phải cực nhọc chân tay mà được thưởng ngàn vàng? Tai
nghe là hư, mắt thấy là thực. Mọi người hết thảy già trẻ gái
trai, ngựa xe ồn ào đến thẳng kinh thành chẳng khác nào đi chợ,
đi hội.
Mặt trời trên đầu mọi người rọi những tia nắng như kim châm đốt
lên da thịt người xem. Trước cổng thành, đầu người xúm xít chen
nhau. Những tấm thẻ gỗ và những mảnh trúc trắng muốt được bện
vào nhau bởi những sợi dây gai hay dây cao su được treo trên
cổng thành; nào là ngàn vạn lượng vàng sáng loáng cũng được xếp
ở cạnh bên. Mọi người nghiền ngẫm từng câu chữ một toàn văn “Lă
thị xuân thu”. “Lă thị xuân thu” chia thành 8 cột, 6 luận và 12
kư, tổng cộng 160 thiên, dài dằng dặc khoảng hai mươi vạn từ.
Toàn thư bao gồm các chủ trương và học thuyết các phái thời đại
tiên Tần. Mà khi tuyên dương các chủ trương này, giữa các ḍng
chữ, các thiên trang sách cũng xuất hiện các bó hoa lửa tư tưởng
và triết học phong phú và kỳ lạ rực rỡ giống như “trăm hoa đua
nở” vậy.
Trong nhiều thiên có xen cả những điếu cố lịch sử và chuyện ngụ
ngôn làm cho các loại lư luận đều tỏ ra rất sinh động. Cho dù
“Lă thị xuân thu” nhặt nhạnh tất cả các thuyết trong “Chu tử
bách gia” nhưng toàn thư đều xoay quanh và giải thích thuyết
minh trọng tâm về thống nhất và trị v́ thiên hạ. V́ thế người
đời sau gọi sách này là “Tạp gia đế vương học”.
Mọi người kề vai sát gót vừa đọc vừa cắt gọt nội dung trong
sách. Trong số độc giả, vừa có người làm quan trọng vọng, cũng
có người là áo vải dân thường, c̣n có cả những khanh sĩ học giả
đến từ lục quốc Quan Đông nữa.
Dưới cổng thành, môn khách của Lă Bất Vi đứng sắp hàng ngay
ngắn, Lư Tư cũng đứng trong đám đó. Quần chúng đối diện th́
không ngừng chen trước lấn sau. Mùi mồ hôi chua ḷm của nam giới
và mùi phấn son của phụ nữ trộn lẫn vào nhau. Cái mùi xoa cũng
không hết đó khiến cho Lư Tư cảm thấy nghẹt thở. Lư Tư nh́n
không dời mắt những người xem hồ hởi tấm tâm trên đầu mũi để nắm
bắt ư định trên mặt người xem và đoán xem ai có thể tăng giảm
đựơc chữ nào trong “Lă thị xuân thu”. Trước khi bày chữ treo
giải thưởng, Lư Tư có phần lo lắng phân trần với Lă Bất Vi rằng:
“Lă thị xuân thu” tuy sâu rộng, câu chữ cắt gọt nhưng vẫn chưa
đạt được đến mức câu chữ không sai sót một tí nào, không lọt một
chữ nào. Nếu ai đó có thể thêm bớt được vài chữ th́ ngàn vạn
lượng vàng của chúng ta chẳng phải là đi đứt không? Lă Bất Vi
nói: trước tác ta đă thẩm định, lửa ḷ đă xanh, lời vàng ngọc sẽ
không có thể có ai thêm bớt được chữ nào đâu. Lúc đó Lư Tư không
nói ǵ, trong ḷng nghĩ: Lă Bất Vi có quá tự tin chăng?
Ngày đầu tiên trôi qua, trong đám người xem không ai có thể thêm
bớt đựơc chữ nào. Ngày hôm sau qua đi, ngàn vàng khiến người ta
phải động ḷng vẫn giữ nguyên treo trên cửa thành. Ngày thứ ba,
ngày thứ tư rồi ngày thứ năm… Lư Tư và các môn khách đều nhất
loạt đợi đă một tháng, đợi đến khi không có ai dừng bước lại xem
mà cũng không có ai thay đổi nổi một chữ trong “Lă thị xuân
thu”.
Thời điểm đó, Lă Bất Vi dùng phương pháp đó để công bố “Lă thị
xuân thu” là rất phí tổn tâm sức. Doanh Chính rồi chẳng mấy nữa
là lên ngôi và trở thành Tần vương như đúng với danh nghĩa. Lă
Bất Vi biết rằng: nể quyền thế của ông th́ bất kể là khách của
lục quốc Quan Đông hay là khanh sĩ Tần quốc, ai cũng đều không
dám thêm bớt một chữ nào trong trước tác của Lă Bất Vi, muốn
được để Tần vương sắp lên ngôi đích thân chấp chính thấy đựơc
quyền uy của ḿnh. Đồng thời cũng đủ để chứng minh những phương
lược đại chính do ông chế định, không có ai đưa ra dị nghị là đă
được ḷng dân rồi. Doanh Chính nhà ngươi không những cùng một
huyết thống mà cả trên phương diện cầm quyền trị nước cũng
thường xuyên bổ trợ cho nhau đấy.
Chính sau khi “Lă thị xuân thu” được treo trên cổng thành một
tháng th́ có một người đang chăm chú đọc bộ sách này ở chính
đường của điện Kỳ Niên - người đó chính là Doanh Chính.
Doanh Chính đọc sách rất nghiêm túc, dựa bàn mà đọc, có lúc th́
lại trầm bổng réo rắt đọc to lên. Triệu Cao tay cầm sách nín thở
đứng một bên. Có chương Doanh Chính chỉ xem một lượt, có chương
th́ lại đọc đến năm bảy bận không chán. Hơn thế nữa, có chương
th́ phải đối chiếu và xem lại những chương trước đó làm Triệu
Cao phải t́m lại những chương trước, điều đó khiến cho Triệu Cao
bận bịu tối tăm mặt mũi.
Triệu Cao nh́n thái độ trên mặt Doanh Chính th́ biết được Doanh
Chính thích chương nào mục nào, ghét chương nào mục nào. Bỗng
nhiên Doanh Chính vỗ bàn khen hay khiến Triệu Cao phải giật ḿnh.
Doanh Chính không ḱm đựơc nói: “Triệu Cao, ngươi hăy xem đoạn
này, Lă Bất Vi nói trúng ư quả nhân quá: “Nay nhà Chu diệt vong
mà thiên tử đă tuyệt. Loạn ở chỗ không có thiên tử, không có
thiên tử th́ kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, kẻ đông giày xéo kẻ cô quả,
dẫn quân tàn sát lẫn nhau, không thể b́nh yên. Triều này chỉ đến
đây thôi.” Sau khi Chu bị diệt vong, lại không có thiên tử. Mà
không có thiên tử sẽ khiến thiên hạ không được b́nh yên. Trăm
dân chịu đựng nỗi khổ cực của quân cường bạo. Nhất thiết phải có
thiên tử. Ai là người làm thiên tử đây?
Triệu Cao tiếp lời: “Không nói cũng đă rơ, đại Tần diệt Chu là
hùng mạnh nhất, đương nhiên sẽ do đại vương lên thay ngôi, đấy
cũng là ư của Lă Bất Vi đó’. (Trích Lă Bất Vi truyện)
o0o
Viết
Khó Hiểu
Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Viết Khó Hiểu
Ở đâu cũng có người viết khó hiểu. Ta hay Tây ǵ đều vậy.
Viết khó hiểu có hai lư do.
V́ kém tài, không biết cách phô diễn ư tưởng của ḿnh, thành ra
câu văn tối nghĩa. Tối nghĩa th́ khó hiểu.
Có người ưa nói văn hoa, ưa viết văn hoa, viết cho kêu, đọc nghe
rổn rảng nên không những khó hiểu mà câu văn chẳng có ư tứ ǵ
hết, rổng tuếch. Độc giả lưu ư, mấy người lên nói trên Radio hay
TV, ưa nói văn hoa, nên câu nói lủng củng, ư nghĩa không rơ mà
thường th́ thiếu tự nhiên.
Năm tôi học lớp Nh́, bắt đầu “tập làm văn”, tức là tập viết bài
tả cảnh, tả t́nh, kể chuyện (thuật sự). Thầy giáo là một ông già
khó tính, nghiêm khắc. Ông biểu sao, phải làm y vậy. Làm sai ư
ông, không những ông đem cái sai trong bài đọc cho cả lớp nghe,
cùng cười, mà “tác giả” c̣n bị gọi lên bảng đen, bị ông phết cho
ít roi, để nhớ lời thầy. Hồi ấy thầy giáo đánh học tṛ là chuyện
thường ngày.
Thầy bảo là phải viết tự nhiên, không văn hoa, không cầu kỳ. Câu
văn ngắn, có đủ chủ tự, động tự, túc tự. Vậy là đủ, chấm câu,
viết qua câu khác. Anh nào viết cụt ngủn, không đầu, không đuôi,
thiếu chủ từ, động từ hay túc từ, thầy đem ra đọc, nói mỉa, làm
“tác giả” thẹn đỏ gay mặt. Anh nào viết dài, ông đọc một hơi,
rồi ông giả bộ mệt, ngừng để thở, rồi mai mỉa, làm cho “tác giả”
muốn độn thổ. Thành ra, học với ông, không giỏi cũng phải được,
ai giỏi thành giỏi hơn. Về sau, nghĩ lại, tôi cho rằng đó là cái
may của tôi. Không hẳn nhờ ông mà sau nầy tôi hay viết văn.
Thiệt ra, tôi viết văn được là v́ tôi đọc nhiều, nhớ nhiều, rồi
cứ bắt chước người ta mà viết, chẳng học trường lớp viết văn nào
cả. Vậy nên khi đi học, tôi viết chẳng ra ǵ, ít khi bài luận
văn được điểm cao. Đến khi tôi ngốn vào trong đầu tôi một đống
sách rồi, bỗng một hôm ông thầy Việt Văn lớp Đệ Lục, nhà văn
Đ́nh Ngân, khám phá ra tôi là học tṛ viết văn hay của ông, rồi
ông khuyến khích, nhắc nhở. Vậy mà chỉ được có một năm đó. Năm
sau, không học với ông nữa, tôi lại hoàn cốt khỉ, làm luận văn
chẳng ra ǵ, chẳng mấy khi quá điểm trung b́nh.
Điều tôi nhớ từ khi c̣n nhỏ là viết câu văn ngắn, gọn, rơ ư, tự
nhiên, dễ hiểu, không cầu kỳ, v.v...
Ngoài căn bản đó, người ta viết khó hiểu là v́ sao?
Đối với nhiều nhà văn, - văn hào th́ đúng hơn -, tư tưởng họ cao
siêu quá, vĩ đại quá nên khó hiểu quá.
Học ngoại ngữ, Anh Văn chẳng hạn, người học muốn hiểu hết tất cả
những ǵ tác giả viết. Người Việt với nhau, nói tiếng mẹ đẻ, đôi
khi c̣n không hiểu nhau, vậy th́ học ngoại ngữ, làm sao hiểu
thấu đáo những ǵ tác giả viết.
Vậy cũng phải rán lên. Tôi học Anh văn từ lớp Đệ Thất, học khá
dốt. Đến khi vào trại tù cải tạo, lại học Anh Văn, sách vở phải
dấu đút cán bộ công an rất vất vả, v́ Việt Cộng “Chỉ cho học
tiếng Anh, không được học tiếng Mỹ” (1), bằng bộ sách English
for Today. Đến khi học tới cuốn thứ sáu, th́ tôi đành chịu thua
trước nhiều tác giả. Với William Faulkner chẳng hạn. Văn ông đă
khó đọc, tới bài diễn văn ông đọc khi ông nhận giải thưởng Nobel
Văn Chương năm 1949 th́ không ít người đầu hàng. Có điều an ủi,
trước khi vào bài, người giới thiệu sách có viết rằng William
viết rất khó hiểu. Nếu quí vị đọc mà không hiểu th́ cũng đừng
thắc mắc. Ngay chính người Mỹ họ cũng không hiểu khi đọc
Faulkner th́ quí vị cũng không nên tự trách ḿnh. Tôi phân vân,
có thể nào tôi cho rằng Faulkner không thành công được không,
bởi v́ như thầy giáo tôi nói: Viết mà người khác đọc không hiểu
được ḿnh th́ đó không phải là sự thành công.
Viết khó hiểu như William Faulkner không phải chỉ một ḿnh ông
ta mới có đâu. Ở Việt Nam, trước 1975, thiếu vạn ǵ.
T́nh trạng nầy trước 1945 th́ không vậy. Nh́n chung, các nhà văn,
nhà phê b́nh hồi ấy không có khuynh hướng viết như thế. Phần
nhiều họ viết trong sáng, dễ hiểu. Những người càng nổi tiếng,
văn họ càng trong sáng, ngoại trừ vài người như Lê Văn Trương,
ưa lư luận dông dài, Đoàn Phú Tứ, với “Màu Thời Gian” th́ ư
tưởng ẩn dụ kín đáo, với Nguyễn Xuân Sanh th́ cầu kỳ với những
bài thơ theo trường phái “tượng trưng.” Dĩ nhiên, Nguyễn Xuân
Sanh không thành công. Đọc câu thơ như:
Buồn Xưa
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
Rượu hát bầu vàng cung ướp hương
Ngón hường say tóc nhạc trầm mi
Tư tưởng cầu kỳ, diễn đạt cầu kỳ, khó hiểu, không gây được cảm
xúc cho người đọc, khó có thể cho rằng đó là bài thơ hay.
Sau thời gian đó, nhiều nguời ưa viết cầu kỳ, khó hiểu. Họ cũng
muốn trở thành như William Faulkner chăng? Họ muốn trở thành một
người, một nhân vật đặc biệt chăng? Họ muốn người ta sợ họ v́ họ
có cài ǵ khó hiểu đó chăng? Ở miền Trung, có ông thầy dạy đại
học. Tuy ông ở bên Tây về, nhưng cũng mới đậu cử nhân, lại dạy
đại học, cử nhân dạy cử nhân. V́ vậy, ông muốn chứng tỏ ông là
một giáo sư “ngon lành” nên sách ông viết cầu kỳ, khó hiểu, mà
sinh viên học với ông, cũng chẳng có anh nào phục thầy giỏi.
Việc nầy làm tôi nhớ một câu nói rất thông thường của ông bà xưa:
“Hữu xạ tự nhiên hương.” Người giỏi, tự dưng giỏi, mọi người đều
biết, đều phục. Người không giỏi th́ rồi ai cũng biết là không
giỏi, dù cố làm ra vẻ ta đây là người giỏi, bằng cách viết cầu
kỳ khó hiểu, th́ họ cũng không thể là người giỏi được. Tôi vẫn
thường nhớ lời dạy của ông thầy giáo già dạy tôi năm lớp nh́:
Viết sao cho người ta đọc và hiểu được.
Nói thế cũng không phải là viết đơn giản quá. Đơn giản quá th́
nhiều khi lại mất hay, và cái hay, trong nhiều trường hợp, phải
là sự khám phá của người đọc.
Tôi dẫn chứng bằng hai bài thơ hay thời tiền chiến. Thứ nhất là
bài thơ Bến My-Lăng. Cái tên My-Lăng nghe đă lạ, hay, lời thơ
th́ trong sáng, dễ hiểu:
Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thi vàng rơi đầy trên mặt sách
Ông lái buồn để gió đến mơn râu
Bài thơ, đầu đề đầy chất thơ, tác giả viết đơn giản. Nhiều người
thích bài thơ nầy.
Người đọc cũng thích bài “Màu Thời Gian” của Đoàn Phú Tứ. Cái
tên nghe cũng lạ: Thời gian vô h́nh nhưng lại có màu? Thông
thường chỉ có cái ǵ hữu h́nh mới có h́nh thể và màu sắc. Và đây
là bài thơ nặng tính triết học?
Màu Thời Gian
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
D́u vương hương ấm thoảng xuân t́nh
Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần Phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngắt
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
Tóc mây một món chiếc dao vàng
Ngh́n trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm t́nh cũ ĺa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng
Duyên trăm năm đứt đoạn
T́nh muôn thuở c̣n hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngắt
Thực ra, nội dung bài thơ chỉ là chuyện t́nh của một cung phi,
cung phi nhà Tần: Phải vậy không, v́ trong bài thơ có câu: “Ngàn
xưa không lạnh nữa, Tần phi!” Có thể có cả Chiêu Quân Cống Hồ.
Chiêu Quân không muốn đi, nhưng v́ mệnh vua nên phải đi và cô ta
tự vẫn trên đường sang Hung Nô. Có thể ư đó nằm ở trong câu:
“Tóc mây một món chiếc dao vàng, Ngh́n trùng e lệ phụng quân
vương.”
Nh́n chung, có thể tác giả mượn những điển tích cũ: Tần phi, hay
Chiêu Quân để nói lên một mối t́nh của thời đại tác giả, có thể
ngay chính tác giả yêu ai đó mà đành “Duyên trăm năm đứt đoạn”,
hoặc bỏ nhau mà không phụ nhau, c̣n nhớ nhau hoài, và thiếp dấu
đi cái sắc đẹp đă tàn phai để phải mang tiếng phụ chàng (“Thà
nép mày hoa thiếp phụ chàng”). Ư nầy người đọc cũng thấy trong
thơ Tản Đà vậy:
“Vàng bay mấy lá năm hồ hết,
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.
Đến mùa đông, gần tết “năm hồ hết”, lá không trở sang mầu hồng
như đầu thu: “Ngọn gió thu phong, rụng lá hồng”. Bây giờ th́ thu
đă qua, lá trở nên màu vàng: “Vàng bay mấy lá... ” Thiếp không
c̣n chờ chàng được nữa, thời gian qua gần hết rồi, tuổi trẻ cũng
đă qua rồi, thiếp phải đi lấy chồng, thiếp đành “phụ chàng.”
Ở hai bài thơ trên, mỗi người có một cái hay riêng. Tản Đà dùng
màu sắc chiếc lá để nói tới “Màu Thời Gian”. Lá hồng là thời
gian mới qua. Lá vàng là thời gian qua lâu. Đoàn Phú Tứ nh́n
thời gian không qua màu hồng hay màu vàng mà màu tím. Màu thời
gian tím ngắt, màu của cung điện, của Tử Cấm Thành, màu xiêm y
của cung nữ. Dĩ nhiên, màu tím, lại là màu tím ngắt th́ buồn hơn
màu hồng hay màu vàng của Tản Đà. Đoàn Phú Tứ nh́n thời gian qua
màu tím, lại cũng qua đó để thấy hương thời gian dịu dàng:
“Hương thời gian không nồng, hương thời gian thanh thanh.”
Tản Đà nh́n màu lá nhưng không mô tả đó là màu thời gian. Đoàn
Phú Tứ nh́n thời gian qua trí tưởng để qua trí tưởng mà thấy màu
thời gian.
Thơ Tản Đà đơn giản và rơ ràng, đọc thấy hay. Thơ Đoàn Phú Tứ
đọc nghe khúc mắc khó hiểu. Nhưng khi t́m hiểu được ư tứ của tác
giả, ai cũng nhận là hay.
Điều quan trọng là viết thế nào để người đọc hiểu được ḿnh. Đó
chính là lời dạy ông thầy giáo dạy tôi năm lớp nh́ vậy.
(1)
Trung úy Việt Cộng Trần Đức Ước, người Bắc, một hôm lên lớp
chúng tôi, nói như thế!!!
Trích từ
http://vantuyen.net/
|