|
|
Cuộc Di Cư Của
Chữ Nghĩa
Nguyễn Văn Lục

|
Năm 1954, người ta nói đến cuộc di cư người,
thật ra c̣n có cuộc di cư chữ nghĩa nữa. Người
đi, chữ cũng đi theo. Chữ nghĩa miền Bắc cũng
lềnh kềnh, lếch thếch nối đuôi nhau lên tầu há
mồm. Chuyến đi gian nan của nguời di cư thế nào
th́ chữ nghĩa cũng vậy. Chữ ở lại, chữ ra đi,
chữ nào c̣n, chữ nào mất. Chẳng ai c̣n tâm trí
đâu để lưu tâm tới điều đó. Chữ được di cư vào
miền Nam, chở đi rồi, bao nhiêu chữ đă rơi rụng,
vung văi dọc đường. Bao nhiêu chữ đă sống c̣n
sau khi đă hội nhập với chữ bản địa.
Phải đợi đến sau ngày 30 tháng tư 1975, người ta
mới có thể biết được sự c̣n mất này một phần nhờ
so sánh chữ nghĩa giữa hai miền. H́nh như cũng
ít ai để ư đến cái mất, cái c̣n của chữ nghĩa,
v́ có quá nhiều cái mất cái được được lớn hơn.
Cái mất lớn hơn đó để người khác lo, người viết
lạm bàn về số phận chữ nghĩa người di cư sau
1954 và nếu có dịp về chữ nghĩa của người di tản.
Phần 1. Chữ ṃn theo thời gian.
Cho dù không có
cuộc di cư, chữ nghĩa cũng cách này cách khác bị
xói ṃn. Sự mất c̣n này trước hết là do sự xói
ṃn của thời gian . Chữ nghĩa như một vật dùng
một lần th́ c̣n ngon, nhưng dùng nhiều lần th́
ṃn hay cùn đi. Như cái kéo cắt măi cũng phải
cùn. Dao băm măi cũng lụt đi. Khen đi khen lại
đâm nhàm tai. Yêu nhau lắm, cắn nhau đau, hay ít
ra cũng chán.
Đùa
dai hoài đâm nhạt như nước ốc. H́nh như chữ
nghĩa dị ứng với cái lập đi lập lại. Tất cả
những ngữ nghĩa trên chỉ ra một điều: Thời gian
và sự đi lập lại có thể làm xói ṃn, hoen rỉ chữ
nghĩa. Tâm lư con người lại ưa chuộng cái mới,
cái lạ. Như trong t́nh yêu, dùng chữ đó với nhau
lần đầu, trọng lượng của chữ nặng lắm, thấm thía
lắm, cảm động lắm. Dùng lần thứ hai thấy nhẹ đi
rồi. Phải tăng cường độ nghĩa bằng những chữ lắm,
nhất, số một. Có khi cả bằng tay chân vẫn chưa
đủ. Tăng lời thề.. H́nh như vẫn hụt.
Trong văn chương, ta cũng gặp cảnh ngộ tương tự.
Nhất là trong lănh vực thơ . Thơ là khơi nguồn
cho sáng tạo chữ mới, văn ảnh mới, biểu tượng
mới. C̣n nhớ, hồi thơ Nguyên Sa xuất hiện đúng
lúc khi mà cuộc di cư đă hoàn tất. Chữ nghĩa thơ
của ông c̣n nóng hổi, thơm phức như bánh ḿ mới
ra ḷ. Nhiều cô cậu, ghi ghi chép chép để dùng
lại:
Áo nàng vàng, tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh,
tôi mến lá sân trường.
Chữ nghĩa đó được truyền tay, đến người cuối
cùng có thể chỉ là chiếc bánh ḿ nguội. Cứng như
đá. Thật ra, thơ đó có một vài văn ảnh mới. Mới
với người đọc thôi. Nguyên Sa đă gợi nguồn cảm
hứng từ người t́nh là cô Nga ( sau này là bà
Trần Bích Lan) . Có thể lúc mà thơ đó mới ra ḷ,
đối với ông, thơ văn đó chả có ấn tượng ǵ nữa.
Nhưng mới người cũ ta. Có lẽ v́ vậy mà nhà thơ
suốt đời mang cái nghiệp phải sáng tạo cái mới.
Sáng tạo không ngừng.
Số mệnh chữ nghĩa mỏng manh như số phận con
người. Thời gian như thước đo chiều dài ngắn của
chữ nghĩa, đồng thời cành báo về cái hữu hạn của
nó. Sự sợ hăi của Nguyễn Du phải chăng cũng từ
đấy mà ra.
Chữ có thế vắn số nên có nhiều chữ đă trở thành
chữ cổ ít ai nhắc tới. C̣n nhớ, hồi mới di cư
vô
Nam, người Bắc sửng sốt nhất, nghe lạ tai nhất
là chữ Mă Tà. Mă tà thời tây là gọi là
Hiến Binh, sau này trong Nam gọi là Cảnh sát,
ngoài Bắc gọi là Công An. Không biết v́ lư do ǵ,
chữ Mă tà sau khoảng hai năm ǵ đó, không c̣n
nghe ai nói nữa. Cũng vậy, theo sách vở(1),
chữ manh nghĩa là nhỏ mọn. Người đời chỉ
c̣n nhớ váng vất khi nó đi với chữ khác như mong
manh, tan manh, chiếu manh, manh áo, manh mún.
Một chữ khác như chữ Khem, nghĩa là kiêng
cữ. Nếu nó không cặp bạn với chữ Kiêng th́ người
ta không c̣n nhận ra nó như Kiêng khem ra nắng,
ra gió. Chữ khác như chữ Lụn, nghĩa là
hết, người ta cũng chỉ dùng trong một số trường
hợp hiếm hoi : Tim lụn có nghĩa tim đèn cháy hết,
lụn năm, lụn ngày, mềm lụn, lụn xuống, lụn mạt.
Mấy ai c̣n nhớ, c̣n biết, c̣n
sử
dụng những chữ cổ trên. Nhưng có chết đi mới có
sống lại, cái chết đi ung mầm ra cái mới. Nhờ
vậy mà chữ nghĩa thay đổi và tiến bộ, mỗi ngày
một đa dạng, một phong phú và chuẩn xác hơn.
Thời gian đă là một nhẽ, cộng thêm dụng ư của
người sử dụng chữ làm chữ nghĩa sống dở, chết dở.
Từ nay, chữ có thêm nghĩa. Chữ và nghĩa. Chữ
dùng giống nhau, nhưng nghĩa th́ mỗi người hiểu
một nghĩa. Rầy rà từ đấy mà ra.
Huyền thọai về việc xây tháp cổ Babel phải chăng
là một bằng cớ báo trước về sự sa đà của ngôn
ngữ, chữ nghĩa và đến cả số phận của nó nữa.(2)
Số phận chữ nghĩa, cái sống, cái chết của nó là
sống ṃn, chết ṃn, chết từ từ. Mỗi ngày của nó
là một bước ngắn lại. Cả làng, cả nước đang
dùng, vậy mà không đâu biến đi đằng nào.. Từ ṃn
đến là hay, nó gợi lên văn ảnh của một đồ vật
mới đầu bóng loáng , sáng choang, mầu sắc rực
rỡ, hấp dẫn người ta. Ai ai cũng mê, cũng nói,
cũng dùng. Chữ trở thành thời thượng. Càng được
dùng, càng nhiều người nhắc đi nhắc lại, càng
phổ biến th́ cái nguy cơ mất lúc nào không hay.
Chữ vẫn đó, mà nghĩa đă mất dần . Cái xe chở
chữ, lúc chở chữ này, lúc khác chở chữ khác,
hoặc dán nhăn hiệu khác. Nó đă chở như thế bao
nhiêu chuyến, đă thay h́nh đổi dạng bao nhiêu
lần.
Nói như thế th́ chữ ṃn hay nghĩa ṃn. Cái nào
ṃn trước, cái nào ṃn sau. Chữ là cái chuyên
chở nghĩa và một chữ có thể có nhiều nghĩa, tùy
theo vị trí của nó trong câu nên nghĩa dễ bị ṃn
hơn chữ. Chẳng hạn , chữ cái và con. Chữ chỉ có
hai, nhưng nghĩa th́ nhiều lắm nên nghĩa lúc thế
này, lúc thế khác. Cũng là con , nhưng con dao,
con với cái, nhỏ con, con dại cái mang, con đĩ,
cỏn con. Nhưng cũng không thiếu trường hợp cả
hai đều mệnh yểu.
Chữ càng ṃn nhanh nếu nó chuyên chở nhiều nội
dung, ư hướng của người dùng.Tất cả tuỳ thuộc
vào ư hướng người sử dụng.. Nhưng làm sao nắm
bắt được ư hướng đó. Dĩ nhiên khó lắm. Vấn đề
nay đă lây lan sang một chủ đề triết lư là : sự
ngộ nhận, sự thông cảm hay sự bất lực trong việc
t́m hiểu tha nhân mà các triết gia hiện sinh
thường đề cập tới. V́ có dụng ư chữ nghĩa đôi
lúc trở thành gian dối, lừa phỉnh và trong chính
trị trở thành tuyên truyền. Một thứ bạo lực ngôn
ngữ, một thứ vũ khí như con dao, khẩu súng.
Chẳng hạn chữ Việt gian thời Việt Minh, hay chữ
tay sai Cộng Sản thời bây giờ.
Với cái nh́n nhân bản th́ chữ nghĩa có một cuộc
sống , có ḍng sinh mệnh, có thể mất, có thể
c̣n, trôi nổi như đời sống một người. Nhiều chữ
nay đă chết, nằm chôn vùi trong nghĩa địa của
các Bảo tàng hay sách cổ. Nói ra cũng ngậm ngùi.
Xin trích dẫn một số chữ nghĩa làm bằng chứng về
sự mất c̣n này. Trong lời mở đầu báo Nam Kỳ địa
phận, số đầu tiên, năm 1907 có những câu như sau
:
" Bổn báo kỉnh cáo, ṭa báo đă ước ao cho con
nhà Annam, đua nhau tấn tài, tấn đức, thông phần
đạo, ngoan việc đời… Tờ báo có ư khai đàng văn
minh cho nhân dân đặng tấn phát cho mọi bề, việc
đạo việc đời đều thông thuộc."
Xin trích dẫn một đọan khác :
"Lời rao cần kíp. Bổn báo gửi cho mỗi người hai
số nhựt tŕnh đầu hết mà xem thử, như ai bằng
ḷng mua th́ đem ba đồng bạc đến mượn cha Sở mua
dùm.."
Trong một trả lời bạn đọc, chúng ta nghe thử lời
rao sau đây :
" Bổn báo có nhận được một mandat của một ông
nào đó không đề tên, không đề địa chỉ, nhưng yêu
cầu gửi báo"
Tức cười thật. Nhưng 25 năm sau, trong tờ L'Impartial
viết vào ngày 20-11-1929, ta thấy lối viết đă
nhẹ nhàng thông thoát hơn :
" Sự giải phóng người Annam về phương diện
thương mại và kỹ thuật chỉ là một huyền thoại."
Bạn đọc thấy có nhiều chữ được sử dụng cách nay
một thế kỷ đă không c̣n được dùng nữa như bổn
báo kỉnh cáo, nhựt tŕnh, con nhà Annam, tấn tài
tấn đức, khai đằng văn minh. Nhưng có nhiều chữ
vẫn được dùng cho đến ngày nay như Chữ Cha Sở và
nhất là những chữ khá chuyên môn cách nay 70 năm
như giải phóng, phương diện thương mại và kỹ
thuật, huyền thoại vẫn c̣n được dùng. Nhất là
chữ Huyền thoại mà người viết có cảm
tưởng là nó chỉ được dùng sau này trong Triết
học Tây Phương mà thôi. Hóa ra nó đă có một
nguồn gốc lâu đời đến thế.
Trong những chữ bị ṃn, mất đi..ở trên. Vấn đề
là t́m hiểu xem, tại sao chúng không c̣n được
dùng nữa. Sự mất c̣n của một chữ trước hết là
thói quen, rồi sự xói ṃn, sự được dùng ít hay
dùng nhiều, tính địa phương, sự sáng tạo của các
nhà văn, nhà báo, dụng ư chính trị và cuối cùng
là các cuộc di dân. Và đặc biệt nhất là cuộc di
cư năm 1954 cũng là mục tiêu của bài viết này.
Phần 2. Cuộc di cư của chữ nghĩa.
Cuộc di cư năm 1954 không phải chỉ là vấn đề
chính trị của một tập thể người chọn lựa một thể
chế chính trị. Điều đó đúng nhưng không đủ. Một
triệu người di cư chuyên chở theo cả một nếp
sống văn hóa, phong tục, tôn giáo, cách làm ăn,
cách suy nghĩ sinh sống, tính nết và cuối cùng
cách ăn cách nói. Chữ nghĩa đă làm một cuộc di
cư không tiền khoáng hậu trong lịch sử của người
Việt từ Bắc vào Nam.
Khi lần đầu tiên tiếp xúc lại với chữ nghĩa miền
Bắc sau 20 năm xa cách. Người viết có cái cảm
giác sung sướng đến ngạc nhiên, đến bỡ ngỡ v́
nhớ lại những chữ nghĩa tưởng chừng đă quên nay
nhớ lại. Sau bao năm xa cách, h́nh như bắt lại
được ḿnh, nối lại được dĩ văng thân thuộc, gần
gũi. Chẳng hạn, lúc đọc nhà văn miền Bắc Vũ thư
Hiên trong cuốn Miền Thơ ấu và nhất là cuốn
Chuyện ở tỉnh lỵ, hay Tô Hoài trong O chuột
(1942), Nhà nghèo (1944) và nhất là Cát bụi chân
ai (1992), Nguyên Hồng, trong Cửa Biển, Nguyễn
Tuân
Người
Lái đ̣ trên sông Đà, Nam Cao với Chí Phèo, Đôi
mắt. Nguyễn Khải với Mùa lạc. Lê Lựu với Một
thời xa vắng. Và gần đây thôi Nguyễn khắc Trường
với Mảnh đất lắm người nhiều ma. Họ, những nhà
văn, đă làm sống lại từ trong mồ nhiều chữ mà
người viết đă nghe, hoặc chính ḿnh đă dùng và
nay đă quên, đă không dùng nữa. Người viết cảm
động như một khám phá, như một sưởi ấm lại kư
văng đă quên. Chẳng hạn thay v́ nói, ông ấy bệnh
nặng, sắp chết, hay ông ấy đang hấp hối, đă cấm
khẩu, tay bắt chuồn chuồn. Nhưng hạ một câu :
Ông
ấy sinh th́ rồi th́ đă quá. Và cứ như thế dàn
trải ra khắp các cuốn sách quê hương cũ t́m về,
dấu chân kỷ niệm và niềm thơ ấu sống lại.
Chữ nghĩa như có hồn được vực dậy, thổi thêm
sinh khí. Phần lớn những thứ chữ này có vào thời
tiền chiến và gần như bị * đoạn tuyệt * vơi TLVĐ.
TLVĐ chẳng những đoạn tuyệt với phong tục, nếp
sống cũ mà cả với chữ nghĩa cũ nữa. Như vậy,
song song với nhóm TLVĐ, vẫn c̣n sót lại một
ḍng văn học ngược chiều với nhóm Văn Hoá Ngày
nay và cứ thế nó kéo dài đến bây giờ. Và một lần
nữa, nó lại phải đương đầu với những nhà văn trẻ,
thế hệ sau 1975, thế hệ sau cởi trói hay sau nữa
Hậu Hiện đại.
Cũng một cách thức tương tự, người ta t́m thấy ở
miền Nam với Nhóm Sáng Tạo đổi mới nội dung,
giải phóng chữ nghĩa bằng cách sử dụng những từ
có vóc dáng triết lư thời thượng. Bên cạnh đó có
một ḍng chảy văn học chữ nghĩa như khe suối
nguồn, lau lách, rỉ giỏ giữ lại cội nguồn, giữ
lại bản sắc của ḿnh với Sơn Nam, B́nh nguyên
Lộc và đặc biệt nhất là nhà văn
Lê
Xuyên. Đây là một hiện tượng văn học có vóc dáng
và đáng nể.
Nhưng chuyện phải đến đă đến. Càng đọc các nhà
văn miền Bắc, càng thấy chữ nghĩa mất nhiều lắm.
Đếm không hết, nói mấy cũng không đủ.
Luật của đa số
Ở bầu th́ tṛn, ở ống th́ dài. Coi vậy mà đúng
lắm. Người mới đến phải vào khuôn, phải thích
ứng, phải hội nhập. Sức ép của đa số buộc người
mới tới vứt lại hành lư mang theo. Ngôn ngữ,
tiếng nói phải vứt dầu tiên v́ nó khác người ta
quá. Tiếng nói là cái phải điều chỉnh đầu tiên.
Phải vặn lại đinh ốc hàm
dưới,
điều chỉnh lưỡi, điều chỉnh tần số âm thanh ở
tai, nhất là một thảo tŕnh mới cho bộ óc. Càng
ít, càng thiểu số, càng vào nhanh, càng giống
khuôn đúc
(4).
Cái mà c̣n giữ lại cuối cùng là giọng nói.
Thoạt đầu là các chữ chửi của dân miền Bắc vốn
là sắc thái văn hoá bản địa. Đặc thù và cá biệt.
Ai chửi hay và chửi có bài bản, có nghệ thuật,
có vần điệu, ví von, có tay nghề bằng miền Bắc.
Chửi hay như thế nên có kẻ làm nghề chửi thuê
kiếm ăn. Chẳng hạn, trong chuyện Chí Phèo của
Nam Cao, Chí Phèo chửi để lấy tiền uống rượu đến
tay sừng sỏ trong làng như lăo Bá cũng chào thua.
Có những chữ nghĩa thuộc loại anh chị, chửi có
tay nghề ở miền quê nghênh ngang lên tầu há mồm,
coi ai chẳng ra ǵ. Vậy mà vào đến miền Nam gặp
anh Hai ở cầu Ba Cẳng hay bến Tầu Sàig̣n, chị Ba
Cầu Muối, Chị Năm chợ cá Trần quốc Toản đành tắt
tiếng. Các chị chữ nghĩa miền Bắc vẫn có thói
quen đứng dạng háng, tốc váy, hoặc vỗ đồ bồm bộp
đứng xo ro một góc khi nh́n thấy những thằng cha
bự tổ trảng, cởi trần, cười th́ mồm vàng choé
những răng vàng. Không im tiếng sao được. Tiếng
chửi thề của tay anh chị miền Nam không có lời
đáp trả. Tiếng chửi tục
(5)
biết thân, biết phận tan hàng.
Tất cả những tiếng chửi tục đủ loại đă có một
thời khét tiếng tỉ như Tiên sư bố, tiên sư cha,
tổ sư cha.
Không bao giờ được nghe nữa. Chả bù với ở miền
Bắc, nhớ lại các anh chị chữ nghĩa này chửi ra
rả cả ngày, cả đêm không ai dám đụng đến.
Trong suốt 20 năm sống ở miền Nam, sống chung
đụng với dân miền Bắc, người viết chưa nghe.
Cùng lắm, nghe chửi trên Tivi vào những dịp tết.(6)
Thứ đến các chữ liên quan đến bộ phận sinh dục,
các hành vi liên quan đến chuyện sinh lư, bài
tiết, đến chuyện ăn nằm giữa hai vợ chồng. Người
Bắc có văn hoá cao, tránh cái thô tục không cần
thiết nên đă có trăm cách, trăm lối diễn tả xa
xôi, bóng gió được coi là tao nhă. Vào trong Nam
dẹp hết tất tần tật. Cái nào ra cái nấy phân
minh, đơn giản và vắn gọn. Đi cầu là đi cầu.
Không bầy đặt hoa ḥe, hoa sói. Cái đơn giản,
cái thực tiễn không hàm ngụ, không gợi ư đôi khi
lại thanh tao gấp mấy lần cái thanh tao thứ
thiệt.
Tính chơn chớt , thật thà, có sao nói dậy đánh
văng chữ nghĩa miền Bắc.
Bên cạnh chửi tục, người Bắc c̣n có lối nói mát,
nói mỉa, nói xéo, chê bai cũng độc địa lắm. Chửi
cha không bằng pha tiếng là v́ vậy. Những lối
nói này sử dụng trong những liên hệ, tương quan
gần như người quen thuộc, người làng, người hàng
xóm, bạn bè. Nó có nhiều cấp độ từ chê bai,
khinh bỉ, trách móc, coi thường giận hờn, bực
bội.. Nó chứa chất chút ǵ độc ác, bơi móc từ
tính nết chi li từng cử chỉ, gia cảnh, cái nghèo,
cái đói, cái bần tiện, rạch ṛi từng cái dốt nát,
cái ngu xuẩn, cái kém cỏi, cái độc ác của mỗi
người.
- Tỉ dụ nói mỉa mai :
Cái mặt nó vác lên, trông nó đú đởn, ăn cơm hớt
ấy, cho chó ăn. Thường sự mỉa mai nhắm vào sự
nghèo khổ, sự ăn uống, vào tính nết, về phái
tính và sự đe dọa.
- Về nghèo khổ :
Dân miền Bắc túng quẫn nên lấy cái ăn, cái uống
làm đầu. Lúc giận rủa nhau cũng mang cái ăn uống
ra mà nhiếc móc nhau kể cũng không lấy làm lạ.
Tỉ dụ diếc móc người ta như : nghèo rớt mồng tơi,
nghèo lơ đít, thí cho nó tư tiền, cứ gọi là đói
vàng mặt, đói
ră
họng. Nghe những chữ diếc móc trên đôi khi đau
ḷng c̣n quá chửi. V́ thế, người đời mới sợ
tiếng diếc móc đến cầm bát cơm lên ăn không
nổi..V́ thế có tâm trạng khác nhau : Khi nghe
chửi, ta thấy tức giận, khi bị diếc móc, ta cảm
thấy nhục. Từ tâm trạng đó kéo ra hai lối phản
ứng. Khi bị chửi, ta chửi lại hoặc muốn đánh trả
lại, ăn miếng trả miếng trong tương quan b́nh
đẳng và rất có thể tương quan bất b́nh đẳng, kẻ
yếu chửi kẻ mạnh. Nhưng khi bị diếc móc, bị
sỉ
nhục th́ tương quan lệch, kẻ trên-kẻ dưới, nên
nạn nhân hầu như
không có đ̣n để đỡ, v́ yếu thế không dám đáp trả,
cam chịu ẩn nhẫn và cùng lắm nuôi hận trả thù.
Cho nên, về mặt tâm lư, bị diếc móc vẫn đau hơn
bị chửi. Thông thường những người có văn hoá,
những người có địa vị, ở trên người khác có giáo
dục thường ít chửi mà nói diếc, nói móc, nhẹ hơn
là nói bóng , nói gió. (7)
Về tính nết :
Phải quen biết, phải qua lại mới biết nhau, biết
từ chân tơ kẽ tóc, đến lúc giận hờn th́ mang
tính xấu người khác ra rủa. Chẳng hạn rủa : mắt
ông viền cải tây rồi, đồ thông manh, trông vậy
mà đáo để ra phết, đồ ông mănh, cứ giăy .. lên
như đĩa phải vôi, nhanh nhẩu đoảng, lanh cha
lanh chanh. Tất cả những lối nói trên đều dựa
vào một sự vật, vào một biểu tượng cụ thể có
thật để gợi lên một ư tưởng xấu. Biến cái cụ thể
thành một ư niệm trừu tượng.
(8)
Cả một nếp sống văn hóa, truyền thừa, kinh qua
kinh nghiệm mới nhận ra cái tế vi, cái dị biệt
mà biên giới nghĩa chỉ cần xảy chân một cái là
dùng sai, hiểu sai. Xử lư đúng chỗ, đúng trường
hợp hẳn không phải là dễ. Đồ thông manh th́ nặng
hơn mắt ông viền cải tây. Đồ cám hấp th́ nặng
hơn đồ dở hơi. Đồ láu cá láu tôm th́ nặng hơn đồ
ông mănh. Nói không đâu vào đâu th́ khác nói
chua như
giấm.
Cân nhắc vụ việc, đánh giá từng trường hợp, xử
lư người – việc – rồi dùng từ.. thích đáng.
Tất cả đ̣i hỏi sự khôn ngoan, tính toán và
trải
đời. Đó là thứ văn hoá chửi mà không ăn ṃn bát
ṃn đĩa ở miền Bắc không hiểu thấu đáo được. Vào
đến miền Nam sau này, người dân miền Nam với nếp
sống giản dị đă trấn áp người miền Bắc, quy kết
là khôn ranh. Bỏ đi Tám. Đù má, nói ǵ th́ nói
mẹ nó đi cho rồi, ṿng vo tam quốc hoài, mệt
quá. Vậy là phải dẹp cái thói xỏ xiên, văn hoa
chữ nghĩa. Người miền Bắc di cư chỉ có mỗi một
con đường trong lối sống và cư xử mới là dẹp bỏ
tất cả những từ chửi bới, diếc móc ở trên. V́
thế, mấy ai c̣n nhớ đến những lối diếc móc trên.
- Về phái tính :
Người phụ nữ miền Bắc vốn là nạn nhân của nhiều
thứ, của đủ thứ đến cái ǵ xấu đích thị là của
phụ nữ. Đến cái ǵ khen th́ thật sự cái đó có
lợi cho đàn ông. Khen tứ đức tam ṭng là lời
khen chết người, buộc chặt, trói chân người phụ
nữ thành tên nô lệ không công. Khen tiết hạnh
khả phong là lời khen trớ chêu nửa khóc, nửa
cười. Khen trinh tiết làm đầu là một lối khen
họan, khen thiến không hơn không kém, chẳng khác
ǵ hoạn quan. Nói tách bạch ra, con C… là chúa,
là vua.
Nhưng những lời nguyền rủa quả không thiếu mà có
thừa. (9)
|
Phần
II
Tôi muốn đứng ra, nghểnh cao cổ, ḥ hét bênh đàn bà cũng
không được. V́ t́m đến nửa ngày cũng không kiếm đâu ra
chữ để chửi bọn đàn ông. Thử xem nào : đồ đàn ông đĩ
ngựa. Nghe không ổn . Đồ lẳng lơ. Cũng không nghe ra
tai. Cuối cùng t́m ra được vài chữ đáng đời : Đồ súc
sinh và một chữ dấm da dấm dớ : Đồ cha căng chú kiết.
Thật đến là tức, tự nhiên xổ ra được một lô chữ cho hạ
hoả : đồ du côn du kề, đồ ăn mày ăn xin, đồ ǵ nữa nào..
đồ lính tráng. Cái may của phụ nữ miền Bắc là vào đến
trong Nam, họ đă không bao giờ c̣n bị ai diếc móc như
thế nữa.
Than văn hay dọa nạt :
Đă nói th́ phải nói hết. Bên cạnh đó, ở mức độ chừng mực vừa phải
dễ dung nhận được là các lối nói than văn, hăm đe. Trong
lối nói này, người ta tỏ ra một oai quyền, một sự khôn
ngoan
già
dặn, một sự từng trải, sự hiểu đời, cái hơn người. Chẳng
hạn : Các người đừng có vội tí ta tí toét, cứ ỉm đi, cứ
im thin thít, thời buổi nhiễu nhương, trắng đen lẫn lộn,
hơi đâu mà, có dỗi hơi, kêu giời kêu đất, tôi vội vàng
mát mẻ nói, đừng có bắt bí nhau, liệu cái thần hồn, bà
truyền đời cho mà biết, cứ tẩn cho nó một trận đến ḷi
tù và ra, vả vào miệng cho tôi, cái giống nhà mày, không
có tao th́ cả họ
mày
ăn bùn, nó bôi tro
trát
trấu
vào mặt, mấy đứa kia th́ đáng vật một nhát cho chết, nó
lo xanh mắt và thức suốt đêm, hừ ngỡ là ǵ, hóa ra hắn
nằm vạ
(10), giận cá chém thớt, bà truyền đời báo danh
cho mày biết, tôi biết tỏng ṭng tong trong bụng ông
nghĩ ǵ, chớ nói gở nó vận vào ḿnh, e xúi quẩy đấy.
Người miền Nam nghe những câu trên là sùng rồi :
rắc rối tổ mẹ, cái ǵ mà ví von qua không hiểu. Qua nói
thiệt, qua có sao nói dzậy. C̣n mấy cha nội, nói dzậy mà
không phải dzậy. Có ngon ra đây, kiểu ǵ qua cũng chơi
ráo trọi. Kiểu ǵ nó cũng chơi th́ né đi cho được việc,
giở
sách thánh hiền ra đă có câu thánh dậy : tránh voi chẳng
xấu mặt nào.
Phong kiến qua lối xưng hô bị dẹp bỏ
Có lẽ không ở đâu, không ở nước nào cách xưng hô lại
phức tạp lầy nhầy như miền Bắc. Mới đây, trong một
chương tŕnh Vidéo, người viết thấy một cô ca sĩ trẻ
được người điều khiển chương tŕnh phỏng vấn.. Lúc phải
trả lời, cô lúng ba, lúng búng, v́ không biết phải xưng
bằng anh, chú, bác hay nhà văn với người điều khiển
chương tŕnh. Bác có vẻ già quá, anh th́ có vẻ hơi
sỗ
sàng.
Ông th́ xa lạ. Cậu tớ th́ xấc quá. Trong cái cách học ăn,
học nói của người Bắc th́ bài học vỡ ḷng là học cách
xưng hô. Trẻ con nào mà không được bố mẹ dạy phải xưng
hô tùy theo tuổi đă đành, theo quan hệ họ hàng, theo
chức vụ và theo xă giao nữa.
Những tiếng thầy bu, thầy u, thầy đẻ, thầy me, cậu mợ,
đằng ấy, cậu tớ, người nhớn, con nọ, con kia, huynh, đệ,
quan bác, thằng cu, con đĩ, mẹ đĩ nhà tôi, nhà con, ông
mănh, thằng trời đánh thánh vật, thằng chết băm chết bằm
tùy trường hợp mà dùng. Nhưng bắt chước người Tầu, ta
c̣n có chữ Gia phụ, Gia Mẫu, Gia Huynh, chỉ bực bề trên
hay xá đệ, xá muội chỉ bực dưới. Bấy nhiêu lối xưng hô
vào đến miền đất mới như lạc lơng , thi nhau bị "cáp
duồn" hết. Không ai nói nữa. Do sức ép hay do tự ḿnh
cảm thấy lỗi thời, thấy dởm, thấy cầu kỳ, thấy rắc rối,
thấy "không giống ai" thấy cần phải bỏ. Có lẽ thấy cái
không giống ai là lư do của sự ra đi không trở lại của
các cách xưng hô trên.
Các chữ dùng để gọi, xưng danh quan tước chức sắc cũng
nhiều lắm. Cũng phiền lắm. Nhiêu khê lắm. Không xưng
đúng danh phận, có thể bị trách, bị giận, bị trù ếm nữa
(11).
Nhiều không đếm xuể. Hầu hết, việc hài chức vụ có dụng
ư, tâng bốc nịnh nọt. Nó đă dần biến mất khi vào đến
trong Nam. Nó biểu tỏ một xă hội phong kiến, đẳng cấp,
trên dưới không thích hợp ở miền Nam. Người dân miền Nam
cũng là di dân, có cái may mắn không thừa hưởng di sản
của một xă hội phong kiến, hủ lậu. Xă hội đó lo kiếm
miếng ăn, làm giầu, không nghĩ đến chữ nghĩa thánh hiền,
cũng chẳng bận tâm đến kẻ trên người dưới.. Xă hội vừa
ổn định, chưa mọc ra những mầm mống của thứ ổn định kiểu
trên đè dưới, quan lại, thứ dân, giai cấp thống trị.
Làng xă mở toang, không hàng rào vây kín.. Xă hội cũng
mở toang mọi phía mà dân là chính, dân là chủ. Sự xưng
hô v́ thế giản tiện và tuỳ tiện, đáp ứng nhu cầu thực
tiễn. Ba má th́ là ba má. Khi cần gọi chung là ông già
bà già. Nội việc xưng hô cũng thấy miền Nam đuợc cởi
trói nhiều theo tinh thần tự do, dân chủ. Người Bắc từ
xa tới, lẽ nào không thấy cái hay đó. Lẽ nào không theo,
tự ư theo. Để gọi một người ở, người trong Nam chỉ gọi
chung chung là người làm, vừa
giản dị, vừa không có khinh miệt, rẻ rúng. V́ thế, nếu c̣n ai gọi
cụ đốc th́ thay v́ là một trân trọng, nó đă biến thành
tṛ cười, mai mỉa. Hóa cho nên, chữ nghĩa có cái thời
của nó, thời để sống và thời để chết.(12)
Cách làm ăn có khác,
chữ nghĩa cũng đổi khác
Cũng là xứ nông nghiệp, nhưng cách làm ruộng, cách sinh
sống cũng khác miền Bắc nhiều lắm. Chữ nghĩa cũng v́ thế
cũng đổi theo. Rất nhiều chữ, từ miền Bắc , vào Nam
không ai dùng nữa, v́ đời sống kinh tế, xă hội đă thay
đổi. Nghề hàng xáo ( xay giă gạo. Trong Nam không có
nghề này ), Ruộng chân nhất đẳng, nhị đẳng, ruộng mật
điền (Ruộng tốt nhất ) gian buồng, khóa dăy, rau muống
lợn, đi đong gạo, dậm lại mái nhà, ḥm gian ( Ḥm to để
đựng đồ trong nhà ), nhà pha (nhà tù), nhà giây thép, xe
ḥm ( Xe hơi sang trọng ) ngày con nước, đi lưới, cái
niêu, nồi đất, chỉnh dầu, rổ rá, dao quay, dao nhựa, một
bồ, vuông thóc, giây lạt, dùi đục, cái cũi, đóng cũi,
cái cưa xẻ, cái gáo, cái chum, cái lọ độc b́nh, cái phên
nứa, bát chiết yêu, đi bể ( biển), tậu 3 mẫu ruộng, vác
thúng, đèn măng xông, cái lồng ấp, cái hỏa ḷ than. Chữ
sau đây cũng xưa lắm rồi, nhưng đến là hay : nhà xí. Nay
thi nguời ta văn minh hơn gọi là nhà vệ sinh, trong Nam
gọi là nhà cầu, siêu đun nước, cái áo quan, cái nhị tẩu
( tẩu hút thuốc phiện), khay đèn, quạt lông, tràng biên
(thân thế một người), đèn ló, cái sập, cái phản, quần
nái (quần dệt bằng một thứ hàng tơ tầm sợi thô, nhuộm
đen), cái b́nh phong, con tḥ ḷ, đỉa phải vôi, giọng kẻ
bể, cái trơng che, cót lúa, một bồ, vuông thóc, gạch bát
tràng, gạch lát bổ cau (Lát xiên và dựng nghiêng viên
gạch ) gạch vồ, cái mả , rồi có cải mả, đề lao, cái lọ.
Tỉ dụ :
xách
hai cái lọ đi
kín
nước. Chữ kín nước nghe thật hay, nhưng cũng ít được ai dùng tới nữa.
Cái màn
(mùng).
Rồi từ đó thay v́ nói đi ngủ, người ta c̣n nói vào màn .
Thợ ngơa.
Người miền Bắc chân lấm tay bùn, làm ăn vất vả. Miền
Nam, ruộng thẳng cánh c̣ bay, làm chơi ăn thật. Đi mút
mùa lệ thủy không thấy nhà thấy cửa, nhất là không thấy
tháp chuông nhà thờ, không thấy đ́nh, thấy chùa. Cái
nh́n về con người, về đời sống, về cách sinh hoạt làm ăn
của người Bắc đă đổi khác. Chẳng mấy chốc cái ngậm ngùi
lúc ra đi nay quên hết. Cứ ǵ chữ nghĩa bỏ quên, đất lề
quê thói, phong tục, tập quán, đạo nghĩa cứ thế mà rơi
rụng dần dần. Thay v́ so đo, khép kín, bảo thủ, giữ lời
ăn tiếng nói, giữ phép nhà bắt đầu buông thả. Thay v́
chiếu trên , chiếu dưới, có phép có tắc.. nay ăn nói thả
giàn,
chả kiêng nể ǵ nữa. Con gái, con đứa nay tụm
năm tụm ba đàn đúm, hát xướng, thích th́ ra rặng trâm
bầu tán tỉnh, mọi chuyện hạ hồi phân giải.
Thành tŕ cuối cùng :
văn minh miệt vườn đối đấu với
văn hóa miền Bắc.
Người miền Nam,
chữ nghĩa chỉ vừa đủ dùng, nếu không nói là c̣n sơ sài
lắm so với miền Bắc. Nó là thứ văn minh miệt vườn không
đủ để ba hoa trên trường văn trận bút. Cái điều đó đă
được nhà học giả Phạm Quỳnh nhận xét một cách khá bất
công trong cuốn Một Tháng ở Nam Kỳ :
"Chữ Quốc ngữ th́ đă thông dụng lắm rồi, đàn bà con trẻ
thường biết đọc, biết viết cả.. Nhưng đến văn Quốc Ngữ
th́ xem ra cái tŕnh độ Quốc Văn đại để hăy c̣n kém"
Nhận xét đó, có lẽ người trong Nam chả bao giờ quên và
thành kiến đó người Bắc cũng chả bao giờ thay đổi. Cho
đến giờ phút này, cái văn minh miệt vườn đó, cộng với 20
năm văn học miền Nam đến sau 75 vẫn chưa được nh́n nhận
(13). Thành ngữ hay lối nói miền Bắc là vốn liếng ngôn ngữ của một
dân tộc. Nó tích lũy, thải loại kết tinh những đặc thù,
những sắc cạnh của ngôn ngữ, của vốn liếng hiểu biết
truyền thừa. Nó không thừa, không thiếu, nó vừa đủ. Nó
được sử dụng trong đời sống hằng ngày như kim chỉ Nam,
nó đưa ra những tiêu chỉ đời sống, phán xét, nhận định
phải trái tốt xấu. Nó là thứ ngôn ngữ đă được đăi lọc,
được truyền thừa của sự khôn ngoan, thu gọn lại. Phải là
người địa phương, nhuần nhuyễn sắc thái văn hóa bản địa
mới có thể sử dụng đúng cách, đúng trường hợp. Người
ngoại cuộc, nhất là người ngoại quốc, dù có ở lâu năm
tại đất nước đó,
chưa dễ giầu ǵ nắm bắt được t́nh ư, nội dung hàm ẩn của
những thành ngữ đó. Miền Bắc, cái nôi văn hóa lâu đời cả
nước giầu dân tộc tính nhờ những lối nói, lối viết đó.
Nó chuyên chở cả thời kỳ 1000 năm thủ đô Hànội, văn hoá
Thăng Long, văn hóa cho cả nước với không biết bao tên
tuổi lẫy lừng. Nó không phải tự cao rao, quảng cáo vô
bằng. Người và chứng tích văn học c̣n đầy ra đấy. Viết
ngàn trang giấy cũng chưa đủ.
Vậy mà lên khỏi tầu há mồm, cập bến Nhà rồng. Tất cả
những thứ đó đổ xuống sông hết. Bài chiếu Lư công Uẩn
dời đô không lẽ mang ra dọa. Lư Thường Kiệt, bà huyện
Thanh Quan cất đi cho rồi v́ chóa mắt với xe cộ chạy
hà rầm. Đường phố rộng thênh thang, tấp nập người qua lại, xe
gắn máy ba bánh nổ bành bạch điếc con ráy. Xe thổ mộ
lách cách vui tai thong thả dời chợ Bến Thành đi Ngă Ba
ông Tạ, hay đi chợ Bà Chiểu. Chú lái xe thổ mộ ngồi
nghiêng bên thành cán xe ngựa tḥ chân xuống đất, mồm
kêu toóc toóc như dục chú ngựa ráng tư nữa, ráng tư nữa
đi cưng. Hoa trái bầy la liệt mua một chục ê hề đủ loại.
Bà bán hàng ra giá mua một chục có đầu., nghĩa là chục
có thể 11, 12 đến 13,
14
trái tùy theo thỏa thuận. Nội thế thôi, mua bán kiểu kỳ cục Nam
Kỳ cũng thấy đủ sướng rồi.
Thật đến là kỳ lạ cái xứ Nam Kỳ. Chẳng ai bảo ai, ngay
cả đám sĩ phu Bắc Hà, đám trí thức thành thị cũng rứa.
Quên hết chơn, hết chọi.. Câu chuyện văn hóa ngàn năm
chẳng chống đỡ nổi một ngày.
Người Hà nội, người di cư có văn hóa cao, hoặc các nhà
văn thường sử dụng chúng một cách nhuẩn nhuyễn trong lúc
giao tiếp, viết lách. Nói văn hay chữ tốt, nói có văn
hóa đương nhiên phải biết sử dụng thành ngữ đó, lối viết
đó như một thuật ngử, nói ít hiểu nhiều. Miền Bắc có
những nhà văn tiêu biểu sử dụng vốn liếng các thuật ngữ
này như Trần Tiêu, Vũ trọng Phụng, Tô Hoài, Vũ Thư Hiên,
Nguyễn khắc Trường. Đọc họ cũng lư thú lắm.
Vậy mà chữ nghĩa đó vào đến trong Nam đă bị gạt , thải
loại không chừa một chữ nào. Không muốn nghe, nghe th́
gạt đi, muốn nói cũng không được.. Nói ra th́ nó đớ đờ
đờ. Có duyên, được kính nể ở ngoài Bắc, trong Nam trở
thành vô duyên, không ngửi được. Đă thế, chữ nghĩa để
có cơ tồn tại, nếu nó được các nhà văn dùng..th́ đỡ biết
mấy. Chính các nhà văn di cư vào Nam như nhóm Sáng Tạo
cũng quăng thùng rác không thương tiếc. Chúng bơ vơ ,
lạc lơng , đầu đường , góc nhà, góc phố, nơi từng nhóm
người rồi biến dạng. Không có đám ma. Không kèn không
trống. Cái này không phải hoàn toàn lỗi người bản địa mà
chính tại người dân du nhập không muốn giữ. H́nh như có
một thói quen xấu, có mới nới cũ.. Ít ai muốn nhắc nhở,
bàn , viết về những chói sáng văn học miền Bắc.
Có lẽ cái mất lớn nhất của dân di cư là mất lối nói, lối
viết, nếp sống văn hoá thành ngữ đă bị biến dạng. Nếu
c̣n một thứ văn hoá ǵ là thứ "Văn hóa chảy" Chảy tuốt
luốt. Với cái độ nóng trung b́nh 35 độ, cái ǵ cũng có
thể chảy được. Bù vào chỗ đó, họ phải đi t́m một hướng
viết mzới, mới có nghĩa là khác với tiền chiến, khác với
Tự lực Văn đoàn. Mới thực sự th́ chưa biết là thế nào,
chưa biết h́nh thù nó ra sao, nhưng điều rơ rệt là dứt
bỏ truyền thống, cái cũ, trong đó có các thuật ngữ cũ
của miền Bắc.. Họ không thích ngồi lau đồ đồng, đánh
bóng chữ cũ mà đùa cợt mầu mè, son phấn với chữ nghĩa
cho là mới, kêu rổn rảng, lặp đi lặp lại đến lập dịơ.
Chữ nghĩa đó mà phần đông họ nói để họ nghe hoặc dành
cho một thiểu số trí thức thành thị vốn chẳng đại diện
cho cái ǵ, ngay cả cho chính họ. Chữ nghĩa đó gặp lần
đầu thấy lạ th́ muốn làm quen. Quen rồi th́ chán ngấy
muốn lỉnh , v́ chẳng nói được điều ǵ. Chính ở chỗ đó,
chữ nghĩa văn minh miệt vườn trở thành nhu cầu tinh thần
của đa số dân miền Nam. Cả cái văn hoá miền Bắc đưa vào
bị cháy rụi chỉ c̣n trơ lại ít cột kèo đen thui. Không
ai đếm xỉa đến nữa.
Phần người viết, bắt gặp lại nó thấy gần gũi như người
bạn cố tri lâu ngày gặp lại. Tự nhiên chẳng khác ǵ thấy
người bạn đầy những tính tốt mà trước đây đă không lưu ư
tới. Phải nói nó hay lắm, đượm mầu sắc dân tộc, quê
hương, xứ sở
Thay lời kết luận :
Nhà văn trước hết là người sử dụng ngôn ngữ như một
người đầu bếp dùng rau cỏ, thịt thà, gia vị nấu món ăn.
Làm văn không nhất thiết là sáng tạo từ mới, chữ mới.
Chùi đồ đồng, đồ cổ không nhất thiết là nhai lại. Bởi
v́, cùng một từ, một chữ được dùng đúng trong từng cảnh
huống, nó vẫn có chỗ đắc địa. Rất tiếc là trong tất cả
các nhà văn miền Bắc di cư vào Nam đă tự ḿnh cắt cái
đuôi quá khứ mở ra một lối viết mới. Hay cũng có, mà dở
cũng không thiếu. Tuy không vay mượn vốn cũ, vay mượn
cái cũ của người làm cái mới của ḿnh th́ tự nó vẫn là
vay mượn, vẫn là cái cũ, vẫn là đi chùi đồ cũ. Cho đến
nay, những suy tư, những trăn trở hiện sinh về sự tồn
tại, về ư nghĩa đời sống của các nhà văn ấy, sau 54, xét
ra cũng chẳng có đất sống nữa. Chẳng nói đâu xa, lối
viết, lối suy nghĩ của trí thức thành thị, trưởng giả
vay mượn, đượm không khí pḥng trà với cà phê, thuốc lá,
ánh đèn mầu, tiếng nhạc xập x́nh tự nó đă không có đất
đứng nữa sau biến cố Phật giáo 63. Từ đó, chiến cuộc leo
thang, lối viết hưởng thụ, suy tư trưởng giả về ư nghĩa
đời người, về cái đáng sống hay dư thừa nhường chỗ cho
lối viết nhập cuộc, dấn thân. Các nhà văn thời buổi
54-55 một lần nữa trượt dốc, bơ vơ, lạc lơng trong cuộc
đu
dây chữ nghĩa. Cuộc di cư năm 1954 đáng nhẽ là một
cuộc hành tŕnh chữ nghĩa, tiếp nối cái sợi giây văn hoá
nối dài hai miền, tự nó đánh mất đi khúc ruột liền sản
sinh ra một thứ văn chương không gốc. Lẽ dĩ nhiên, cạnh
đó, nhiều trào lưu tư tưởng, văn học cũng góp vào các
ḍng chảy chung đó. Người viết gợi lại những chữ nghĩa
của thời xa xưa miền bắc, có những chữ tự nó cũng không
c̣n được dùng nữa ở miền Bắc. Điều đó thật tự nhiên và
dễ hiểu. Nhưng phần đông, chúng vẫn là cái vốn liếng văn
hóa của đất nước, của dân tộc nói chung vượt lên trên
những đối lực chính trị vốn lúc nào cũng là kẻ thù của
văn hóa. Nghĩ như thế mới thấy vai tṛ và sứ mệnh nhà
văn quan trọng đến bực nào. Bài viết này, đă hẳn chưa
đầy đủ, v́ c̣n rất nhiều chữ bị bỏ quên chưa được nhắc
tới, lại chưa hệ thống hóa đúng mực, nhưng trong chừng
mực của một bài báo, thiết tưởng cũng là một hoài niệm
của những người di cư nay di tản ra xứ người để có dịp
nhâm nhi, dịp nhớ lại và hồi tưởng về một dĩ văng đă
qua. Và có lẽ đó là mục đích chính của bài nầy theo cái
nghĩa : Vang bóng một thời của chữ nghĩa.
|
|
Tài
Liệu Tham Khảo
(1). Trong từ điển Từ Việt cổ, nhà xuất bản
Văn
hóa thông tin, Hà nội 2001 các tác gia Nguyễn ngọc San, Đinh văn Thiện
cũng đă thu tập được gần một ngàn chữ cổ như các chữ vừa nêu trên.
(2). Theo Thánh kinh, các con của ông
Nô-ê (Noé,
Noah)
muốn xây một cái tháp ở Babel (Thành Babylone ) để tới được trời cao..
Chúa thấy sự cao ngạo đó nên muốn dẹp tan ư định ngông cuồng đó bằng
cách tạo ra sự lẫn lộn và phức hợp của các ngôn ngữ. Quả nhiên ư định
xây tháp không thành, v́ mỗi người nói và hiểu khác nhau.
(4). Người viết đă sống một thời gian ở các vùng Dầu Tiếng, nơi mà dân
Bắc vào làm phu cạo mủ. Nơi đây, không có một dấu tích dù là nhỏ cho
biết họ là gốc Bắc nữa. Tiếng nói, giọng nói, cách ăn mặc, tập tục tan
ḥa loăng vào cái bản chất miền nam. Cũng không có tháp chuông nhà thờ,
mái chùa, không có đ́nh đám, không hội hè. Giải trí duy nhất của họ là
lâu lâu một gánh hát vọng cổ ghé qua. Họ biến chất hoàn toàn.
(5). Chửi là một phong tục, hay thói quen của người miền Bắc. Chửi trở
thành một nghề như chửi thuê, khóc mướn. V́ thế chửi cần có tay nghề,
chửi có bài bản, lớp lang, bới móc chuyện xưa cũ, nguyền rủa đến tam tứ
đại.
Đàn
ông thường chỉ là văng tục, c̣n đàn bà chửi tục như một nghề. Một trong
những người viết về phong tục người miền Bắc là ông Toan
Ánh
qua nhiều tác phẩm như Phong tục Việt Nam, Nếp xưa, Bó hoa Bắc Việt vv
Rất tiếc, ông né tránh vấn đề chửi tục.
(6). Giữa chửi thề trong Nam và chửi tục miền Bắc, theo tôi, có sự khác
biệt. Người Nam chửi thề vô tội vạ, chửi bất cứ lúc nào, nhất là trong
lúc nhậu nhẹt, lúc vui, chửi mà không nhằm đối tượng nào, nhất là không
có dụng ư bôi nhọ. Người Bắc chửi thường nhắm đích danh người nào và
thường trong lúc giận dữ, có dụng ư. V́ thế, tiếng chửi miền Bắc coi ra
nặng nề hơn tiếng chửi thề. Lại nữa, chửi tục ở miền Bắc, sản phẩm của
chế độ phong kiến, của một xă hội bất công, bị chà đạp, không có công lư.
Không dễ dầu ǵ kiện tụng. Chửi là một bù trừ cho pháp luật, trả lại lẽ
công bằng cho kẻ thua, kẻ mất, kẻ thiệt tḥi. Dĩ nhiên, không thiếu
trường hợp cha chửi con. Nhưng cứ lư ra, lư giải trên vẫn có cơ sở.
(7). Tùy theo trường hợp, c̣n những chữ diếc móc tuỳ thuộc cấp độ nặng
nhẹ tùy thuộc rất nhiều vào t́nh huống, vào giọng nói, và nhất là vào
người nói. Có những điều rơi vào miệng người này nó nặng trở thành chết
người, nặng như búa bổ. Nhưng ở người khác th́ lại chấp nhận được. Chắc
là nhiều người đă có kinh nghiệm mấy bà mệnh phụ gốc Bắc, chỉ cần bà
khen chê, kéo lê cái giọng thưỡn thẹo mà người viết ở đây đành chịu
không cách chi mô tả cho đúng được. Cứ thử rồi biết. Chẳng hạn : ăn phải
đũa nhà người ta, đồ ăn bám, thứ đó được mấy nả, theo voi ăn bă mía, có
khối nó chịu nhả cho đấy, đồ đi ḅn của, đồ tha phương cầu thực. Cho ăn
uống ở nhờ đến lúc canh không lành cơm không ngọt th́ rủa : ăn ṃn đũa
ṃn bát nhà người ta, ăn chậm như sên, bà ấy nói như móc họng đến gần
phải mửa cơm ra mà trả lại, thôi th́ cũng phải vắt mũi đút miệng, được
bữa hôm lo bữa mai. Tất cả những lối diếc móc, nói bóng nói gió chẳng
hiểu bằng cách nào chúng biến mất. Người viết cũng không hiểu tại sao
nữa.
(8) . Con đĩa giẫy trở thành ư niệm cứ quưnh cả lên. Và cứ như thế có những
chữ khác cũng theo quy tŕnh đồ vật – ư niệm như : đồ nỡm, thằng nỡm, đồ
giở quẻ, nó cứ trêu ngươi, dấu như mèo dấu cứt, cứ ngồi chầu hẩu ra đó,
tưởng kín bưng kỳ t́nh ai cũng biết, nói chua như
giấm,
chua ḷm ḷm, nói không đâu vào đâu, không có đầu cua tai nheo ǵ, thằng
đó ba lăng nhăng, chẳng đâu vào mới đâu, làm ǵ cũng lau cha lau chau,
đồ láu cá láu tôm, cứ lững tha lững thững, đứa nhăi ranh, vênh vênh váo
váo.
Chữ theo voi ăn bă mía gợi lên một văn ảnh rơ rệt : theo đuôi chỉ ăn đồ
thừa, đuôi thẹo. Các chữ như : chỉ đâm ba chầy củ, đồ láu cá láu tôm,
vênh vênh ngậu xị lên, đồ cám hấp, ngu như lợn, đồ miệng năm miệng mười,
đồ dở hơi, quá thể lắm, đồ phải gió ở đâu, chuyên môn nói kháy, nói leo,
cái giống nhà mày, thứ đó được mấy nả, trốn như trạch, đồ thông manh, đồ
ông mănh, đồ đi ḅn của. Mỗi chữ đều gợi lên một văn ảnh và không chữ
nào giống nghĩa chữ nào .
(9). Những lời nguyền rủa cũng lấy nữ giới làm đối tượng, mà đặc biệt
do chính đàn bà rủa đàn bà. Quan niệm trọng Nam, khinh nữ của thời phong
kiến tồn tích lại đẩy xô thân phận phụ nữ thành một phụ phẩm thấp kém,
hèn hạ dựa trên những thói đời bất công, dựa trên nền đức lư hủ lậu giả
h́nh, man trá đẩy họ xuống đất bùn. Chẳng hạn có những câu diếc móc nhẹ
nặng đủ thứ, đủ kiểu xuất phát từ tâm địa độc ác, hận oán : người đâu có
thứ người..sáng bảnh mắt c̣n nằm trương xác ra.
Đàn
ông nằm đến bảnh mắt th́ không sao cả. Dậy
muộn cũng là một tội lỗi. Hoặc nặng hơn nữa : đồ thối thây, nó bơi tro
trát
trấu vào mặt, con gái con đứa, cô ấy cong cớn, những cô này mới nứt mắt
nảy ṇi mà sao giống những mụ nạ ḍng già đời, da dẻ nó hon hỏn thế này.
Tất cả đều nhắm vào phái tính hay đĩ tính : ơn à ơn ẹo, đanh đá lắm cơ,
một cô gái giăng hoa,
một lũ lĩ con gái, chửa
buộm ( chửa với người khác không phải với chồng), chó dữ mất láng giềng,
dâu dữ mất họ, mẹ cái hĩm, con bé t́nh ra phết, mà phải biết là đỏng
đảnh.
Chưa chồng có cái khổ riêng lại thêm cái khổ của miệng lưỡi thế gian :
Già kén kẹn hom .
Ăn
mặc lơ đễnh một chút cũng khổ : cái yếm
xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nẩy, cái người đàn bà dại dột đă nằm ềnh
ệch ra đấy, nói dại nếu mày chửa th́ ăn nói làm sao, cái yếm cổ xây thật
trắng, cái quần lụa buông chùng xuống tận gót, ăn bận sang đến cô đầu
cũng không ăn đứt, nó nhân t́nh đến trăm thằng, bọn lư dịch chẳng anh
nào không thậm thọt ra vào nhà nó, nó mặc áo cánh xát xí, nào yếm vải
phin, nó tơ tuốt ghê lắm (diện). Diện cũng chết mà không diện cũng chết
: chết nỗi không tơ tuốt, chồng nó chê, con đó phải ḷng thằng khác, nó
chỉ nhong nhóng suốt ngày, cơm bưng nước rót đến tận mồm, nó lẳng lơ và
nhẹ dạ, hai con rồi mà vẫn c̣n trẻ mau máu, trai làng hay chớt nhả và
bẻm mép, cô gái mỏng mày ngày xưa bây giờ là đàn bà sồ
sề,
cô ấy chúa đời là khỏe.Thiệt là khổ. Khổ đầu, khổ đuôi, khổ trên , khổ
dưới, càng dưới càng khổ.
(10). Tục nằm vạ là một tục lệ đặc biệt của miền Bắc. Bùi Hiển đă viết
một cuốn chuyện về vấn đề Nằm vạ này. Chí Phèo của Nam Cao cũng đă ăn vạ
để bắt bí nhà giầu.
(11) . Người Hànội có một thói quen khá kiêu
sa (Theo Vũ ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại) là thay v́ gọi tên một
người, họ lại hài chức vị người đó ra mà gọi. Gọi như thế vừa là cách
vinh danh người được gọi. Phần người gọi cảm thấy hănh tiến v́ có quan
hệ quen biết với người được gọi. Chẳng hạn : ấy quan đốc nhà tôi, hay
ngon hơn nữa : ấy anh Huyện X. Chữ nhà tôi, tự bầy tỏ cái huyênh hoang ,
hănh tiến, thấy sang bắt quàng làm họ. Thật đáng ghét.
(12). Đă là đốc học, đốc tở mà c̣n kèm theo chữ cụ hoặc chữ quan nữa
th́ rơ ràng là xu nịnh : quan đốc tờ, quan đốc học, cụ Nghị, cụ Hàn, cụ
cử, cụ kư, cụ Thượng, cụ Tú, thầy đội xếp, thầy cai, cụ lang ta, cụ bang
tá, thầy quản, anh Khóa, anh cung văn ( thư kư riêng của các gia đ́nh
giầu có), thầy đồ, sinh đồ hay cống sĩ, quan hiệu, quan châu, quan phủ
doăn, hiến ty, dề điệu, quan thừa sứ, ông Hiến binh, ông Trùm, ông Chánh
trương, ông hậu, ông Hàn, ông cửu, cụ Thượng, ông Lư, cụ Chánh.
Những chữ dùng để chỉ kẻ hầu người hạ đă tùy hoàn cảnh mà thay đổi.
Trong nhà đạo, khi dùng chữ Kẻ tôi tớ chỉ là lối nói khiêm tốn của kẻ
bậc dưới với kẻ bậc trên như cuối lá thư thường viết *kẻ tôi tớ hèn mọn
*. Chữ con nhài, nàng hầu tương đối lâu đời nhất được dùng trong các nhà
quan. Sang đến thời Pháp thuộc có chữ con sen, chị vú, anh phu xe, rồi
anh tài xế.. Những chữ để chỉ việc gái chời bời như : đi nhà thổ (me dông de te ), nhà
chứa, me tây, làm đĩ..Trong Nam giản dị gọi chung là Gái điếm. Những chữ
chỉ nhà nó ( chỉ vợ hoặc chồng). Chữ người (chê bai). Nguời khó tính lắm
ạ đ̣i phải mua rau lấy Người mới xơi được
( trích trong Chiểu Chiểu của Tô Hoài ). Quan anh ( ư nịnh bợ) có
tắm không, mở bôn chục trai nước suối Viten đổ vào thùng rồi pha nửa
chai cô lôn để cụ giội lại, dọn cái buồng Thổ Nhĩ Kỳ để chớp bóng đấy
nhé (Trích Giông Tố của Vũ trọng Phụng ). Thêm một chữ
cô ả
cũng mất tiêu không ai dùng nữa. Một số chữ của nhà đạo cũng không được
dùng nữa : Thầy cả, cụ, cố, thầy kẻ giảng, ông bơ. Nam Cao đă viết riêng
một chuyện nhan đề : tư cách mơ. Nhà văn cho biết tại sao gọi là mơ, rồi
lềnh, rồi Săi. Chữ ông Trùm, ông Chánh Trương cũng không ai dùng nữa.
Một số chữ bên Phật giáo như ông Bụt, ông sư, ông văi, bà văi, chú tiểu
cũng ít ai dùng nữa. Có nhiều người muốn phục hoạt lại chữ Bụt, ông Sư
như chủ trương của thầy Nhất Hạnh.
(13). Trong cuốn Chân dung và tác phẩm của Trần đăng Khoa, cuốn sách phê
b́nh Văn học . Không một chữ đả động đến các nhà văn miền Nam. Mới đây
nhất, qua giới thiệu của T.S Lê văn hảo, có bộ Tổng tập Văn học VN, dày
cả vài chục ngàn trang. Đă có phần dành 4000 trang cho VH Cách Mạng rồi,
chỗ đâu cho những mảnh VH khác.. Bao giờ cái mảng VH miền Nam mới được
nh́n nhận trong cái khung của một thời kỳ đi khai phá, có những nét đặc
thù, bất chấp những tiêu chuẩn khách quan của Văn học. Vấn đề là nó có
mặt, ở một thời kỳ nhất định, có những sắc thái cá biệt. Vậy đủ rồi.
(14). Chẳng hạn : Nó tẽn ṭ, sợ văi đái, nhịn như nhịn cơm sống. Mấy từ
này lâu lâu gặp một bà Bắc kỳ đặc dùng lại nghe cũng sướng cái lỗ tai.
Ăn
uống vốn là lẽ sinh tồn của nguời dân Bắc nên được sử dụng tràn lan như
: ăn phải đũa, ăn cơm khoán, ăm cơm tứ chiếng, ăn chực, ăn ba vực như
trong câu : ăn chẳng bao nhiêu, ăn vạ hay nằm vạ. Tuyền là thứ đặc sản
cả. Quư lắm đấy. Thứ thiệt, thứ ṛng chính hiệu con nai. Nào là bữa lưng
bữa vực, rồi bà thổ ra, chả mấy khi, thế mà cấm khinh người, ông ta chúa
pha tṛ, ông bỏ lỗi cho tôi, tôi nói khí không phải, khắc xong. Mấy từ
này dùng đến là đắc ư. Nó đứng một ḿnh th́ chả có ǵ đáng nói, nhưng nó
đứng trong toàn cảnh một câu nói th́ thật hay. Khí không phải vừa có vẻ
nhún nhường, nhưng đầy thách đố và sẵn sàng đối đầu không thương nhượng.
Này, lại tiếp một lô chữ nữa ghi lại kẻo quên : Con đàn cháu đống, ốm
thập tử nhất sinh, cứ chơ mồm vào, le te chạy vào, bà đă mà cả mà cập,
rơ mồn một, việc lớn ta tính theo việc lớn, c̣n việc thỏn mỏn trong nhà
tôi thu xếp khắc xong ( trích trong Những đứa con trong gia đ́nh, Nguyễn
Thi ) Về muộn mấy, vào chơi cái đă nào, người chết như ngả rạ, quái nhỉ,
quái nó đi đâu, tối bức như ḷ than, người con gái trắng lôm lốp, ra sự
rằng ḿnh dỗi, giăy lên như đỉa phải vôi, ngă lộn tùng phèo, lớn phổng
phao, con đi đằng này, đằng này là đằng nào, trả lời mà như không trả
lời ( Không cho biết là đi đâu, có ư dấu, có thể là nói dỗi) u hỏi làm
ǵ những việc ấy, mặc con, không đủ mặc thây, cái đám ma cũng đường
trường lắm, con đẻ rứt ruột ra c̣n thế, lời chửi rủa th́ bao giờ cũng
thừa bứa tứa tát, thở rít lên như tiếng bễ, gà gà mắt lên như người say
thuốc lào, nhà cũng hoàn cảnh lắm ( Chữ này có thể là chỉ được dùng sau
54), khối anh, ông đă diện oách, một tay bốc trời, nói khe khẽ, cô suưt
bật cười, nào bác cả ra đây, đàn ông đàn ang có biết ǵ đâu, giặt giũ
cơm nước chợ búa, trêu ngươi ai, cài toang xong ( đóng cửa truồng trâu
), ngă xiểng liểng, nó khó bảo, đi đong chịu, khi cần tiền vẫn giựt
nóng, cái ngữ đó, cái cơ ngơi, Nói đến hơi hướng cái danh ông Dề, tao úp
được con chó rồi, đi húi tóc, ra sự rằng ḿnh dỗi, đi ở trọ, mẹ hờ con (
ru con, chữ cũng hay lắm đấy chứ ) suốt đêm, giă đám
(ră),
tuổi mụ, cầm bằng ông ta mà giận không che chở cho nhà ta để nhà binh
Nhật xung công tất cả th́ cứ xung công ( trích trong Cửa Biển của Nguyên
Hồng ), nhưng nay mới tường mặt ( rơ mặt ), hàng bồ chuyện, bồ chữ, kíp
thợ, đi đóng đáng, ( Trích những đứa con trong gia đ́nh, Nguyễn Thi ),
xách ná thun đi bắn nó, làng vào đám, thổi ṃi rơm, trâu làng tôi mót
đâu ỉa đó, chú Lựu quẩy hai gánh đi mót cứt trâu trên đường. Hai chữ mót
dùng trong một câu mang hai nghĩa khác nhau. ( Chuyện ở tỉnh lỵ của Vũ
thư Hiên). Châm đóm, thông điếu, xe đíếu, nơ điếu, quán đỏ đèn suốt
sáng, bắt rận, bắt chấy, cứ bỏ rẻ, ra ao tắm, ta nhắm vài miếng, mâm cỗ,
bà ấy hay ốm lửng ( Giả vờ ốm ), chẳng biết đâu mà lần, bật hồng là ǵ
nào, đốt đuốc đấy, tôi chạy ù xuống bếp, chú nghiêng đầu ḍm ông , có
như vậy, nhược bằng không, ǵ chứ cái ấy không được, cô Gái là người vắt
mảnh sành ra nước, nhưng cái khoản rượu bao giờ cũng biện đủ, tháng chạp
c̣n gọi là tháng củ mật ( tháng trộm cướp như rươi ), phóng * bút ch́ *.
Không phải cái bút ch́ để viết đâu ( ùng cái mai buộc vào một sợi thừng
dài dùng để phóng vào đối thủ), có ăn phải có trả, sợ cô quở, đi biệt
tăm tích, mời ông xơi, con mắt cùi nhăn, chơi đánh chắt, những chùm quả
lúc lỉu trên cành, chơi đố lá, đời thủa nhà ai, nhựa sung được dùng vào
vô khối việc, sạch như ly như lau, mời ông đưa cay, những ngày rau lụi (
hiếm rau), tôm he giă lấy nước đánh ḷng đỏ trứng gà giả làm yến ( Trích
Thời xa vắng, Lê Lựu ), lại gắp vài miếng , từng rủa không thiếu một
lời, giỗ sống rồi, nói không ngoa, được mấy nả, không có cái chân đảng
trong làng, ông đứng chân chủ họ, ông Phúc đă đánh trúng huyệt, trong
việc làng, phần đầu gà má lợn , hôn nhân điền thổ, vạn cố chi thù, đă có
người lân la hỏi chuyện gia cảnh, thế là cạch không ai dám hỏi, cạch đến
già, có những tiếng thật hay như : có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt ra,
thế mới biết sông có khúc, người có lúc, trống đánh đến hỏng dùi, đă
trót phải
trét,
tôi đă trót đẻ ra ông, chữ trót đi liền với đẻ ra ông mới diễn tả được
nỗi thất vọng như thế nào của ông bố ( Tả trong một trận đấu tố), rửa
qua quít, rán cá, thịt nạc kho rim, ăn uống húp háp x́ xoạp, chửa xong,
đánh chén, cơm đèn, cơm đóm, cơm sáng trăng, có khi ăn cơm khan chỉ chan
nước mưa, nước vối, động thớt, hễ bên đó đụng đũa, động bát là biết
ngay, muốn ăn th́ lăn vào bếp, lên ăn boóng được nhiều bữa nhờn môi .
Thật hay.
Ăn
giả miệng, không dè, cái đói giáp hạt, nấu cháo độn rau tập tàng, không
dư dật, mấy ông uống nước cả cặn, ăn tợm lắm, con t́ con vị được đánh
thức, cứ nhao nhao lên như chào mào ăn dom, con nào cũng lành chanh,
lành chói, mồm năm miệng mười, Biện là tên cúng cơm , chỉ có hai bữa cơm
đèn, làm ăn giật gấu vá vai, nó vác rá đến xin ăn trước cũng túng, bóc
ngắn cắn dài, rách như tổ đĩa, người từ dưới xuôi, người trên mạn ngược,
ăn hại đái nát, họ lùa ra sân, lùa bát cơm vào mồm. Hai chữ lùa đều có
nghĩa khác nhau. Khóc như mưa như gió, sắc như tiếng dao cạo vào tinh
nứa, nghe đến ghê cả ḿnh. Có chữ nghe đến lạ : dù có mùa đông rét chết
chim, hay * máu gái đẻ * nó bất thường lắm hay vợ dậy lau lưỡi ( lần đầu
tiên người viết thấy dùng như vậy ) và
xi
con đái ( cũng đắt lắm ) phải lai ( đèo sau xe ) vợ đến sở, anh của
Tuyên đă đánh xe đi đón, những cái hắn sợ là hăo cả, thế nào là mềm nắn
rắn buông, ngồi chắp chân bằng tṛn, chỉ nhớ ang áng, người đă thất cơ
lỡ vận, th́ ra già néo đứt giây, những thằng tứ cố vô thân giết đi th́
dễ, anh bứa lắm, mỡ gầu lực xực, không chanh cốm, một thời đă xa lắc xa
lơ, con có nói gian th́ trời
tru
đất diệt, chúng cháu không dám chắc lép, nhưng quả là ít vốn, Bá Tứ ngồi
rười rượi nhảy xuống trẫm ḿnh, anh với Châu cọc cạch ( độc thân, ám chỉ
như ế vợ ) quá, bà bón cơm cho cháu, bà ăn cả thể nhá, sao im ắp đến
thế, cái máy ảnh cà khổ, xin dành cho chị tất, cái ô tô phanh đến két
một cái, bộ
rui
mè, có ǵ không nên không phải bảo nhau, sợ thọt dái lên cổ, thôi ta ăn
khan một cái, thế hệ chém to kho nhừ ( lấy ăn no làm vui rồi ), có ông
chồng hâm, chị vẫn gọn gàng như người son rỗi, gạo vừa đỏ vừa dớn, dáng
chừng chị cả mấy lần nhấp nhỏm định nói, cái cạp sổ ruột, quanh năm hết
dật tạm lại vay nóng, làm lắm th́ chầy vẩy ra chứ ăn thua ǵ, những thứ
ấy chẳng kiếm được mấy nả tiền, bác Tú Mỡ ngày ngày chăm chút lau xe đạp
rồi buộc thừng treo lên, ngồi xuống chiếu, xếp bằng tṛn, không để bánh
xe chịn đất, quay đi quay lại, làm chân điếu đóm điếu.
Trích từ
http://vietsciences.free.fr |